Thứ Sáu, ngày 27 tháng 5 năm 2016

Truyện ngắn 18

TRƯỚC ĐÁM CƯỚI BẠC

Hôm nay tôi ăn trưa một mình. Chồng tôi làm việc cả ngày ở Ban Đối ngoại Tỉnh, ăn cơm bụi ở căng tin, con đầu đã ăn sớm đi trực nhật lớp, con sau ở lại bán trú. Tôi trầm ngâm ngắm tấm thiệp mời đám cưới, tự nhiên đắng miệng không muốn nuốt miếng cơm, dù thường ngày ăn rất ngon miệng.
Tấm thiệp mời có hình thức đơn giản, trang trí khá trang nhã, không hiểu sao tôi lại thấy nặng nề như thế? Không phải vì đây là Đám Cưới Bạc – phú quý sinh lễ nghĩa, thời buổi này những người có điều kiện thường tìm cách tổ chức lễ lượt gặp mặt để bồi tiếp, thù tạc, mở rộng quan hệ, trả nợ ơn nghĩa – mà tôi quan tâm chủ yếu đến người gởi thiệp…
Chú rễ trong đám cưới Bạc này (gọi là chú rễ cho có ý nghĩa, chứ tuổi đã 62) là anh Khánh, đồng đội của cha tôi thời chống Mỹ. Sau ngày thống nhất đất nước, cha tôi tiếp tục tham gia Mặt trận Tây Nam rồi Mặt trận phía Bắc, đến 1986 hy sinh ở biên giới Hà Tuyên; còn anh Khánh chuyển ngành về học tiếp đại học sư phạm, dạy học mấy năm rồi chuyển sang quản lý. Tôi còn nhớ, trong đám tang cha tôi (hồi đó tôi mới học tốt nghiệp cấp 2), các đồng đội trong đơn vị cũ cha tôi đến viếng, tất cả đều mặc quân phục. Anh Khánh dáng cao to nhất, là trưởng đoàn, tự giới thiệu trước đây tôi là liên lạc của đại đội trưởng Thuấn (tên cha tôi) ở mặt trận Tây nguyênđến khi có người trong đoàn nói nhỏ, cả nhà mới biết anh đang là Giám đốc Sở. Anh làm Giám đốc Sở Giáo dục của Tỉnh một thời gian rồi ra Bộ, nhận trách nhiệm Vụ trưởng Vụ Tổ chức cách đây mấy năm, và chuẩn bị nghỉ hưu năm nay (theo quy định, tuổi nghỉ hưu là 60, nghe đồn anh quen biết nhiều ở Trung ương nên được kéo dài thời gian công tác thêm 2 năm, nay đã có thông báo chuẩn bị để hạ cánh…). Làm việc ở Hà nội, hàng tháng anh vẫn bay vào Huế dăm ngày, chị Chi vợ anh đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn xuân sắc lắm…
*
*  *
Nhìn đồng hồ, đã đến giờ đi làm buổi chiều rôi. Tôi nghe tiếng máy xe nổ không êm lắm, hình như đến hạn thay dầu nhớt rồi. Chiều nay phải nhớ ghé tiệm sửa xe gần nhà, thay luôn đèn pha bị hỏng. Đường vắng xe, tôi vừa chạy vừa miên man quay lại ký ức.
Tôi tốt nghiệp đại học sư phạm Pháp văn năm 1994. Mẹ tôi bảo có người nhắn tôi nộp đơn về Sở Giáo dục Tỉnh. Sau khá nhiều thủ tục hành chính, anh Khánh - khi đó là Giám đốc Sở, nhận tôi về làm trợ lý, kiêm Hành chính Văn phòng (thời đó giáo sinh sư phạm tốt nghiệp đều phải tự lo đi xin việc, bạn bè cùng khóa cứ tị nạnh tôi về ngôi sao chiếu mệnh sáng chói). Quỳnh là bạn thân tôi, hỏi nhỏ:chạy vào chỗ này hết bao nhiều? tôi ngẩn người chẳng biết nói gì, gặp dịp thăm dò, Mẹ đã nghiêm giọng: mối quan hệ này không thể tính được bằng tiền đâu, con gái ạ! làm tôi sợ run không dám hỏi tiếp, vậy mà Quỳnh, khi nghe thuật lại, đã diễn dịch ra ngay: chắc được tính bằng cây, bằng chỉ thôi… Tôi không dám bàn thêm, chỉ tự nhủ trong thâm tâm, mình có một món nợ ơn nghĩa với anh Khánh. Cũng theo thông tin bạn bè cho hay, Quỳnh nhận dạy ở huyện miền núi NĐ hơn mười năm, chạy vạy đủ kiểu mới được thuyên chuyển về huyện QĐ, cách Trung tâm Thành phố hơn 30 km.
Từ khi được tiếp nhận vào Sở, tôi cố gắng công tác thật tốt để tránh tiếng 5C (con cháu các cụ cả). Hơn 20 năm, tôi cố sức rèn luyện, trau dồi các kỹ năng nghiệp vụ, tích cực theo học các lớp nâng cao tay nghề, bổ sung chuyên môn, không ngại tham gia các phòng trào văn-thể-mỹ của cơ quan nên được nhiều người tín nhiệm. Tôi được bầu làm Tổ trưởng Công đoàn, rồi tham gia Ban Chấp hành Công đoàn, nhưng tôi nghĩ Công đoàn chỉ là bề mặt, về lâu dài vẫn phải bám vào chuyên môn. Sau nhiều năm phấn đấu, cùng ít nhiều cơ may, vị trí của tôi được phát triển dần lên Tổ trưởng chuyên môn, sau đó một thời gian dài, tôi được đề bạt làm Trưởng phòng Nghiệp vụ… Tất nhiên, mức phấn đấu (nói đúng ra là tham vọng) vẫn theo đà phát triển không ngừng nghỉ. Tôi và một vài người khác đang ngấp nghé chiếc ghế Phó Giám đốc Hậu cần mà người đương nhiệm đang chuẩn bị nghỉ hưu. Dù không nói ra, mỗi chúng tôi đều hiểu vấn đề nhân sự chịu nhiều tác động, ở bên Tỉnh ủy, và cả theo ngành dọc là Bộ Giáo dục – Đào tạo, mà cơ quan tham mưu là Vụ Tổ chức, đứng đầu là anh Khánh…
Hôm trước, anh Khánh tìm tôi đưa thiệp mời, giải thích rõ Đám Cưới Bạc này do các con anh chị đề xuất, mừng 25 năm ngày cưới, sau khi đã giải thích ý nghĩa Đám Cưới Bạc và thuyết phục anh chị đồng ý cho các con đứng ra tổ chức… Anh Khánh nói: khách mời là bạn bè, đồng đội của anh chị hiện sinh sống trong Tỉnh, riêng vợ chồng tôi là đại diện của đại đội trưởng Thuấn, thủ trưởng của anh ở mặt trận Tây nguyên. Một số khách đến từ Hà Nội, tranh thủ dự Đám Cưới Bạc của anh chị và thăm thú nhiều nơi nữa… Tôi cảm ơn anh, hứa sẽ thu xếp công việc để tham dự…
*
*  *
Tôi tự tập cho mình thói quen đánh giá con người một cách khách quan, không cảm tính. Chồng tôi vẫn thường trách tôi mang tính khí như đàn ông, có lẽ phải làm công tác Tổ chức mới đúng. Dắt xe vào hàng hiên, tôi cố giữ tỉnh táo để suy nghĩ tiếp về anh Khánh, người tôi sẽ tiếp cận…
Với mọi người, anh Khánh giữ được tiếng thanh liêm, nhưng nhìn vợ anh ăn diện đúng mode, đi lại bằng xe hơi đời mới, hai đứa con đi học nước ngoài, một đứa đã tốt nghiệp, làm việc ở Singapore, một đứa đang học ở Canada, tự tôi liên tưởng đến câu ngạn ngữ: Đằng sau sự thành công của người đàn ông, có bóng dáng của một người đàn bà và câu biến thể: Đằng sau người đàn ông thất bại là người đàn bà xúi dại. Tôi nghĩ ý nghĩa hai câu này như nhau: phụ nữ luôn phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của người bạn đời. Câu chuyện ông quan thanh liêm khi về hưu, trách vợ không đổi tuổi Tý của ông thành tuổi Sửu để nhận trâu vàng thay chuột vàng đã cũ lắm rồi. Quỳnh bổ sung cho tôi câu chuyện hiện đại hơn: Một người thưa với quan nổi tiếng thanh liêm, không hề nhận đút lót: “Tôi chịu ơn ngài, chẳng có gì để tạ ơn, chỉ có chậu mai gia bảo để tỏ lòng thành”. Chậu mai trông quá xấu, chẳng đáng gì, nên quan đồng ý nhận, vứt vào một xó nhà. Thời gian sau, có người đến thăm nhà quan, tấm tắc khen cái thế độc đáo của chậu mai, bàn riêng với vợ quan xin mua lại với giá rất cao. Mua bán xong xuôi, người này tìm đến người biếu chậu mai, cho hay: “Xong việc rồi nhé!”
Tôi không bao giờ quên, anh Khánh là người ơn của tôi: kết quả học tập của tôi không hơn gì Quỳnh, thế mà trong khi Quỳnh lao đao công tác khắp nơi, tôi vẫn ổn định công tác ở ngay Thành phố, cách nhà chỉ 10 phút xe máy. Tôi hiểu mối ưu tiên này xuất phát từ tình đồng đội của anh Khánh với cha tôi, và dù tôi có những nỗ lực đáng kể trong thời gian công tác, tạo được uy tín nhất định, nhưng tôi vẫn thấy rõ mình có quý nhân phù trợ Tuy nhiên, nếu khách quan đánh giá, tôi không thể khẳng định ân nhân của tôi là con người thánh thiện trong tất cả mọi chuyện…
Nếu cơ quan không chủ trương tiết kiệm triệt để, anh Khánh, với hàm Vụ trưởng của anh, vẫn có thể dùng xe hơi đi công cán. Nhưng hình ảnh chị Chi vợ anh hàng ngày đi lại trên chiếc Camry 2.5Q đập vào nhiều ánh mắt hiếu kỳ, nhất là những người chuyên ngồi lê, đôi mách… Một nhà nghiên cứu trong nước phân tích: để nuôi một chiếc xe hơi đi lại hàng ngày, bao gồm các phí gởi xe qua đêm, đường bộ, bảo hiểm xe và vật chất trong xe, đăng kiểm, xăng đi lại, gởi xe ngoài đường, quỹ bảo dưỡng, tổng cộng không dưới 7 triệu/tháng; vậy nếu không dùng xe để kinh doanh, thu nhập phải đạt tối thiểu 20 triệu/tháng… Chưa kể chi phí cho 2 đứa con ăn học ở nước ngoài, hoàn toàn ngoài tầm mức lương đơn thuần, dù của cán bộ cấp trung ương…
Nhưng, trông người rỗi gẫm đến ta…
Nghĩ lại quá trình công tác của mình, tôi có cảm tưởng mình như kẻ há miệng mắc quai. Nếu quả thật anh Khánh có những nguồn thu nhập đáng ngờ vực để đảm bảo cuộc sống như hiện nay, thì chính tôi cũng đã chịu ơn của anh, dù theo Mẹ tôi, chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ gia đình đồng đội, nhưng biết đâu có nhữnglobby (vận động hành lang) mà Mẹ giấu không cho tôi biết… Rồi Đám Cưới Bạc sắp tới đây, tôi phải đi quà như thế nào để vừa lòng cho Bên đưa đang muốn tiếp cận cho tương lai, Bên nhận đang chuẩn bị hạ cánh an toàn… Phòng làm việc của Phó Giám đốc Hậu cần vẫn mở cửa, nhưng tôi có cảm tưởng như đang ở thật xa, tận cuối chân trời...
Tôi gọi điện thoại tâm sự với Quỳnh. Con bé làm việc ở xa Thành phố mà như ma xó, việc gì cũng rõ: mày biết không, mấy năm trước, vợ chồng lão K.C. được bán hóa giá căn hộ ở chung cư LHP, lấy lý do con đi xa, nhà neo người, lão bán luôn, lời mấy trăm chai, chắc ăn đến hết đời mới hết. Ngôi nhà hiện đang ở lại cho Công ty Liên doanh thuê làm trụ sở, giá không mềm đâu. Tao còn nghe nói vợ lão còn cho sinh viên vay tiền nữa, sao mà đủ ngón kinh doanh thế không biết? Tôi thẫn thờ tắt máy, không muốn nghe Quỳnh liến thoắng nữa.
*
*  *
Buổi chiều, tôi làm việc như người mất hồn. Hết giờ, tôi phóng xe đến tiệm anh Phước gần nhà gởi lại xe, dặn sửa xong mang về nhà cho tôi. Chuẩn bị xong cơm nước, tôi bảo các con ăn trước, pha ấm nước chè xanh, nhâm nhi chờ chồng tôi về. Tối nay anh tiếp khách, không ăn cơm nhà, nhưng chắc chắn sẽ về. Hy vọng anh ấy sẽ giúp tôi nhiều ý kiến: thuận vợ thuận chồng, tát bễ Đông cũng cạn mà!
Chồng tôi vẫn giữ thói quen ăn bát canh buổi tối do tôi nấu, dù đã ăn đâu đó rồi. Tôi chờ anh húp xong bát canh riêu cua mới hâm lại, xỉa răng, chiêu ngụm nước chè, mới bắt đầu đề cập đến tấm thiệp mời Đám Cưới Bạc. Anh nhẩn nha cười:
- Anh Khánh chị Chi mời à? Đi chứ, anh cũng thu xếp cùng đi. Tôi ngớ người:
- Thế anh định đi mừng đám cưới thế nào? Anh lại mỉm cười:
- Thì cứ như mọi đám cưới khác. Đi một người thì ba trăm, đi hai người thì năm trăm. Tôi tròn mắt:
- Đám Cưới Bạc của Vụ trưởng sắp hạ cánh đấy anh ạ. Biết đâu là phi vụ cuối cùng? Anh lắc đầu:
- Anh Khánh hồi còn ở Huế là đối thủ ruột của anh trên sân quần vợt, anh biết rõ lắm. Chị Chi trước đây là Hội trưởng Hội Phụ huynh trường con mình học mà. Tôi nhíu mày:
- Nhưng anh có biết dư luận đồn đại về cuộc sống gia đình anh chị ấy như thế nào không? Em cũng đang muốn tìm hiểu kỹ hơn đây… Anh nhìn thẳng vào tôi, đôi mắt không còn vẻ cười cợt:
- Thế em muốn tìm hiều về chuyện gì? Lý do ngày trước nhận em về Văn phòng Sở hả?
Ông chồng tôi tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi thật. Chắc chắn thông tin anh biết không chỉ ở chuyện tôi nhận công tác ngày xưa. Đúng rồi, anh làm ở Ban Đối Ngoại mà, những thông tin tôi quan tâm đều có yếu tố nước ngoài cả. Tôi hỏi phăng dần từng manh mối, anh cứ tuần tự trả lời theo ký ức, chỗ nào không nhớ kỹ thì dở sổ ra, cuốn sổ công tác dày cộp mà anh luôn mang theo người trong chiếc cặp ngoại giao có khóa. Thông tin của anh cung cấp làm tôi phải há hốc miệng ngồi nghe:
…Chị Chi vợ anh Khánh đã nghỉ hưu 2 năm nay, đang làm Giám đốc Đại lý của Chi nhánh Hãng xe Toyata đặt tại Tỉnh mình, em đừng quên chị là một trong những người học tiếng Nhật đầu tiên của Tỉnh. Hình thức phải theo mode là đương nhiên, em đừng quên chị ấy cũng có vóc dáng chuẩn không thua gì em nhé (anh hơi né người, tránh cái nhéo tay của tôi). Chiếc Camry chị đi là của Hãng Toyota giao cho Giám đốc đại lý đi tiếp thị, hết hợp đồng thì trả lại… Thằng Hùng con đầu anh chị 8 năm trước là học sinh giỏi cấp quốc gia, sau khi tốt nghiệp phổ thông đã chủ động tìm học bổng trên mạng và tự thi tuyển, được cấp học bổng toàn phần 4 năm học ở Singapore, vừa đi học vừa đi làm, tốt nghiệp Thạc sĩ xong đang chuyển tiếp sinh Tiến sĩ ở Mỹ, hàng năm vẫn gởi tiền về giúp Ba Mẹ cho em du học ở Canada theo chương trình học bổng 901 của Chính phủ. Thật tình, anh chỉ muốn hai đứa con mình theo gương con anh chị Khánh Chi. Tôi bàng hoàng tiếp nhận các thông tin trái chiều nhưng quá rõ ràng, vẫn không bỏ sót những chi tiết khác: Tiền chênh lệch khi bán lại căn nhà hóa giá, anh chị gởi Ngân hàng, lấy tiền lãi thành lập quỹ HOPE hỗ trợ cho sinh viên Đại học Y Dược nghèo, hiếu học. Hàng năm, Hope chọn một sinh viên nghèo, có khả năng được mượn không tính lãi số tiền tương đương 100 USD, sau 6 năm học, ra trường làm việc sẽ trả lại tiền để Hope hỗ trợ cho khóa tiếp theo, như vậy sau này, mỗi năm có 6 sinh viên được mượn tiền tài trợ. Tôi ngờ ngợ: Tên Hope có vẻ quen quen… Anh cười: Em có nhớ, thằng cu nhà mình hồi hè khoe với Mẹ, được học bổng cho năm học này hơn triệu bạc, cũng của Hope đó: tiêu chuẩn dành cho học sinh do thành viên đơn vị cũ của ông ngoại cháu trực tiếp nuôi dưỡng… Anh kết luận: tập nhìn đời lạc quan đi em, đừng nhìn qua lăng kính màu tối nữa nhé!
Tôi không trả lời anh, vì đang hí hoáy nhắn tin cho Quỳnh: Chuyện đơn giản lắm, Quỳnh ơi! Tao đi dự Đám Cưới Bạc về rồi sẽ kể chuyện cho mày nghe. Thú vị lắm…

(thân tặng các em Minh-Phương)

Thứ Ba, ngày 13 tháng 10 năm 2015

Truyện ngắn 17

TRĂN TRỞ MỘT ĐIẾU VĂN

Chưa bao giờ chồng tôi lo nghĩ như lần này, trông anh phờ phạc hẳn đi. Ngày mai, anh được cơ quan bố trí đi an dưỡng, nghỉ ngơi nhân dịp hè, vậy mà công việc từ đâu đâu lại kéo đến. Bệnh tim mạch của anh chịu tác động của hệ thần kinh giao cảm, cứ suy nghĩ nhiều thì huyết áp lại lồng lên như ngựa vía…
Sáng nay chủ nhật, anh Quý, Trưởng Ban Liên lạc Hội Cựu Chiến Binh (thật ra Hội này chỉ tự phát từ mấy anh em đồng đội cũ, muốn hằng năm gặp mặt để tâm sự, trao đổi những kỷ niệm buồn vui thời quân ngũ) điện thoại cho tôi, nội dung: biết anh đang tham gia tuyển sinh sau đại học, cắt mọi liên lạc, nhưng chiều nay Quý đi công tác nước ngoài rồi, nên báo chị nhờ anh chuẩn bị điếu văn đọc cho anh Thông, đồng đội cũ mới mất (đúng rồi, sáng sớm nay tôi xem VTV1 thấy có nêu tên Trương Đại Thông ở mục Cáo Phó). Ba ngày nữa làm Lễ Truy điệu. Vì anh Thông đã phục viên nên Hội Cựu Chiến Binh sở tại sẽ đọc điếu văn. Tôi cho biết ngày mai chồng tôi lại đi vắng, Quý cười bảo: Thì Quý ký hồ sơ nghỉ an dưỡng cho ảnh chứ ai. Văn hay chữ tốt, Hội này có mấy ai bằng anh, lại quen biết với anh Thông, anh được nghỉ ngơi càng có thời gian suy ngẫm, viết lách. Tôi đành nhận lời, thầm nghĩ đây là mảnh trời riêng của anh, mình phải ủng hộ trong mọi khả năng thôi.
Xế chiều, chồng tôi về đến nhà, tắm rửa qua loa rồi ngủ 1 giấc thẳng cẳng, bù cho mấy hôm thao thức theo đề thi. Buổi tối, nghe tôi báo lại yêu cầu của Quý, anh bần thần, pha một ấm trà đặc, ngồi tâm sự với tôi. Nhiều góc độ khác nhau trong mảnh trời riêng của anh bắt đầu hé lộ, cho tôi thấy những phức tạp trong cuộc sống tưởng như đơn điệu của đời bộ đội…
*
*  *
Thời điểm anh kết thúc huấn luyện, về đơn vị với quân hàm binh nhì, ông Thông (thường được gọi là Thông gấu, để phân biệt với anh nuôi Thông chuột) đã là trung đội phó, mang quân hàm thượng sĩ. Tuy cùng tỉnh, nhưng anh tránh lợi dụng cái mác đồng hương kiểu thấy người sang bắc quàng làm họ (mà tỉnh Bình Trị Thiên có nhỏ đâu, trải dài mấy trăm cây số lận), nên cũng chẳng gần gũi mấy với ông Thông. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là khi trung đội anh, được sự chỉ huy của ông Thông, bám trụ ở bản Cóc Xế, cột mốc 25, chống mũi vu hồi của địch suốt 1 tuần, lần lượt thương vong đến hơn nửa, đến khi được nhận lệnh tiểu đoàn cho rút lui, mới biết B phó cách đó 5 ngày đã bàn giao trung đội cho A trưởng A1 để đi viện vì cơn sốt rét đến rất đúng lúc!...
Mấy tháng chiến đấu ở biên giới Lạng Sơn đã xoay chuyển thời cuộc đến chóng mặt. Khi Trung đoàn trao giấy khen, quân hàm hạ sĩ với quyết định A-trưởng cho anh, ông Thông đã là trung úy, lần lượt thăng lên Đại đội phó rồi Tiểu đoàn phó Hậu cần (nhiều người dè bỉu sau lưng: bố Thông gấu suốt đời chuyên làm Phó, mà không giải thích nguyên nhân). Phải nói ông Thông có tài nắm bắt rất nhạy ý tưởng của cấp trên, dù chỉ là câu nói ngẫu hứng. Có lần Chính ủy Trung đoàn theo ông Thông đi thăm điểm chốt của Đại đội, trượt chân ngã oạch một phát, buột miệng: nơi này mà làm mấy bậc cấp để đi thì tốt quá! Thế là hôm sau, tiểu đội của anh được điều động dùng cuốc xẻng làm ngay mấy trăm bậc cấp, dù cuối cùng, lính tráng vác khối bê tông lên đỉnh đồi làm hầm vẫn bấm mũi giày vào đá cho dễ đi, sức đâu nhấc chân lên từng bậc cấp… Nước sông, công lính mà! Rồi câu vè của lính, trở nên sinh động hẳn lên vì được D-phó hậu cần Thông thực hiện răm rắp: đường sữa lương khô phân từ trên xuống, cuốc xẻng súng đạn phân từ dưới lên! Một thời gian dài, anh và đồng đội vẫn suy diễn lệch lạc như thế, cho tới ngày tiếp xúc với ông Vũ… Hành quân dã ngoại với các anh, ông Vũ cũng mang khẩu RPD nặng trịch với 2 cơ số đạn 1400 viên, giải lao vẫn ăn củ sắn luộc, ăn nói bỗ bã như lính trơn; cuối đợt hành quân, tình cờ anh mới biết ông Vũ là Tư lệnh trung đoàn…
Duyên nợ của anh với ông Thông còn dài! Một năm sau khi chuyển về làm giáo viên Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông Tin ở Nha Trang, anh gặp lại ông Thông, là học viên lớp Sĩ quan Trung cấp 2 năm. Dù ngày ở tiểu đoàn đã tránh không dự lớp Bổ túc văn hóa buổi tối của Trung đoàn (mà anh là giáo viên mời), nhưng bây giờ ông Thông săn đón anh hết mức, vì môn Toán anh đảm nhiệm là môn cơ bản hóc búa, phải được ít nhất 5 điểm môn Toán của anh Trung sĩ Giáo viên, ông mới có thể tốt nghiệp Sĩ quan Trung cấp với quân hàm Thiếu tá. Mối quan hệ đồng hương cấp Tỉnh (tưởng đã quên lãng trước đây) đã được ông Thông quảng bá đến mức tối đa, hầu như cả lớp đều biết mối quan hệ đồng hương, đồng chiến hào của hai người… Riêng anh cố cư xử đúng mức với ông: tổng kết, ông đã được điểm 5 (vớt) môn Toán như một số học viên yếu kém khác. Điểm khá giỏi thì quá tầm học lực của ông, anh vốn kỹ tính khi cho điểm…
Anh còn gặp lại ông nhiều lần nữa khi sinh hoạt Hội Cựu Chiến Binh đơn vị cũ. Ông Thông tham gia Hội là đương nhiên: phục viên với quân hàm Trung Tá, ông trở thành Hội viên danh dự, thường xuyên được mời chào trong các buổi gặp mặt. Hơn nữa, Hội tuy chỉ là tự phát nhưng có một số hội viên là cán bộ đương chức cấp Tỉnh, đã tham gia Hội là có điều kiện dễ dàng tiếp cận cấp lãnh đạo. Một lần, tình cờ thấy bức ảnh ông Thông cụng ly với một Hội viên đang là Phó Chủ tịch Tỉnh, được phóng to để trong trang đầu cặp hồ sơ mà thỉnh thoảng ông trưng ra nửa kín nửa hở, anh bật cười nhớ lại ngạn ngữ: non sông dễ đổi, bản tính khó dời! Ông Thông thường nhắc quan điểm của Mario Puzo qua lời của Vito Corleone, Bố già Mafia: các mối quan hệ xã hội được ví như lương thực ở Bắc Cực, có được thì cứ giữ: bây giờ chưa dùng, biết đâu mười, hai mươi năm sau sẽ dùng đến. Mà nghĩ cho cùng, con cái đã thành đạt, con trai là Phó Giám đốc Tổng Công ty Thủy sản xuất khẩu, con gái làm việc với Công ty Liên doanh với nước ngoài, ông còn mưu cầu điều gì qua các mối quan hệ nữa nhỉ?
*
*  *
Giờ tôi mới hiểu khó khăn của anh. Viết điếu văn, thường chỉ nêu lên những mặt tốt đẹp, thành công, ai lại nêu lên những mặt trái, dù đó đúng là bản chất người đã khuất? Anh cười gượng gạo, kể lại cho tôi: có người vợ khi nghe cơ quan đọc điếu văn về chồng mình “…thương tiếc một công dân liêm khiết, một người chồng chung thủy, một người cha trách nhiệm…” đã bảo nhỏ với con: “Con giở mặt kính quan tài lên xem, có phải Ba con đó không, hay họ nhầm?”… Anh thường dạy học sinh phải biết tôn trọng sự thật, mà nay mình viết điếu văn chỉ nói mặt tốt của ông Thông, hóa ra mình dối trá? Một nửa ổ bánh mì là nửa ổ bánh mì, còn một nửa sự thật là sự dối trá mà.
Chính tôi bây giờ cũng ân hận, phải gì mình đừng nhận lời anh Quý, để người khác lo chuyện này hay hơn. Tội nghiệp chồng tôi, sáng mai đi an dưỡng mà cứ lo canh cánh với mission impossible (nhiệm vụ bất khả thi) được giao. Tôi cũng không biết phải góp ý với anh nên như thế nào…
5 giờ sáng hôm sau, khi tôi bắc nồi xôi sáng cho cả nhà (cha con nhà này một giuộc, thích ăn xôi hàng ngày như dân Lào) thì anh có điện thoại. Tiếng chuông reo khác thường, nhỏ và ngân dài, hình như từ nước ngoài gọi về. Anh cầm điện thoại nghe, chỉ nói vắn tắt với tôi: anh Quý gọi (Quý đại gia mà, điện thoại luôn phủ sóng quốc tế) rồi lặng im một lúc lâu không nói gì, nhưng nét mặt đang đăm chiêu lại từ từ giãn ra thành nụ cười nửa miệng quen thuộc. Mười lăm phút sau, anh chỉ thốt ra mấy từ vô nghĩa: OK… chuột… không phải gấu… chắc chắn được mà. Anh quay lại, trầm ngâm nhìn tôi, rồi ngậm ngùi: Thương anh Thông-chuột quá: anh cũng mất trước ông Thông-gấu một ngày; anh Quý nhờ viết điếu văn là viết cho anh Thông-chuột. Anh thoát nạn rồi, em ạ. Điếu văn cho anh Thông-chuột thì dù không giao, anh cũng phải tham gia làm cho bằng được.
Anh pha bình trà mới, kể chuyện Thông chuột cho tôi. Một phần tò mò, một phần muốn chuộc lỗi đánh chữ tác thành chữ tộ khi nghe yêu cầu anh Quý nhờ, tôi lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào.
*
*  *
Lê Thông nhập ngũ cùng đợt với anh. Thấp bé nhẹ cân, thể lực B1, nhập ngũ là chết luôn biệt danh Thông=Chuột. Khi huấn luyện, Chuột được phát khẩu AK báng gập, chứ đeo CKC, chắc báng súng phết đất. Sang đơn vị chiến đấu, nhìn vóc dáng của Chuột, Chính trị viên định nhận về làm liên lạc cho Ban chỉ huy Đại đội, trong khi Chuột cứ năn nỉ xin về trung đội. Cuối cùng, khi phát hiện khả năng nấu bếp (trước khi nhập ngũ, Chuột nấu bếp ở Cửa hàng Ăn uống Diên Sanh, Quảng Trị), từ Ban Chỉ huy đến anh em chiến sĩ đều thuyết phục Chuột làm anh nuôi (càng hay, chứ làm liên lạc, ở cùng nhà Ban Chỉ huy, nghe đồng chí Thông, biết gọi đại đội phó hay liên lạc?)
Qua khó khăn mới thấy khả năng con người. Theo quy định, nấu bằng củi thì 1 nuôi quân phục vụ 20 chiến sĩ, thế mà những ngày Chuột đứng bếp đại đội, hai phụ bếp chỉ vừa làm vừa chơi, còn cơm dẻo, canh ngọt luôn đúng giờ. Về sau, Quản lý phân công Chuột chuyên đứng bếp chính, hai chiến sĩ chọn luân phiên từ mỗi trung đội hàng ngày chỉ lo kiếm thêm rau tàu bay, môn thục… để phụ trợ cho bếp ăn đơn vị. Đợt diễn tập toàn trung đoàn, đại đội được tuyên dương về mặt hậu cần, nhờ đôi quang gánh có thể nấu cơm khi hành quân của Chuột, nồi canh rau tập tàng Chuột hái tranh thủ dọc đường, nấu với mớ ốc do Chuột bắt dưới suối ngay khi đội hình dừng chân. Phải hưởng cái thú ăn miếng cơm nóng, húp ngụm canh ngọt, xỉa răng tanh tách trong khi chiến sĩ đại đội khác loay hoay kiếm củi, bắc bếp nấu cơm mới thấy cái khả năng tiềm tàng của Chuột.
Với sự gợi ý và tuyển chọn của chính trị viên, Đại đội thành lập Tổ nuôi quân 3 người, tổ trưởng là Thông-Chuột. Các tổ viên được tập huấn các công việc phục vụ hậu cần chung cho tập thể đại đội và độc lập cho từng trung đội. Tưởng là tập huấn chơi chơi, ai ngờ đến khi đánh nhau thực sự mới thấy giá trị. Trong đợt chống cường tập ở biên giới cuối năm 1979, quân địch chỉ ở cách một tầm đạn bắn, nên đại đội phải chia hẳn thành 3 trung đội, mỗi trung đội rải các tiểu đội bộ binh, hỏa lực trấn các ngọn đồi. Tiểu đội 1 của anh đóng quân gần địch nhất, chỉ mấy tầm lựu đạn: đạn dược trang bị đầy đủ, không sợ thiếu, chỉ mỗi tội đến trưa, nắm cơm sáng bay veo, lính chỉ uống nước cầm hơi. Anh tính đường đổ nước vào túi gạo sấy thì C-bộ phát tín hiệu chuẩn bị nhận cơm. Căng mắt ra nhìn mới thấy dưới lớp pháo địch bắn cầm canh, bóng một con chuột nhắt men theo đường mòn lủi lên, gần đến nơi thì nhận ra đúng là Chuột với chiếc ba lô bằng thân người, chứa đủ mọi thứ cơm canh. Anh ôm chầm lấy Chuột, cạ hàm râu lâu ngày chưa cạo vào đôi má nhem nhuốc bụi đất. Chuột xua xua tay, bảo còn mấy nơi phải đưa cơm tiếp… Nhìn cái bóng loắt choắt lủi tiếp sang đồi bên cạnh, anh thầm nghĩ có mấy ai thấy hết giá trị của Chuột?
Anh nhận được thông báo điều động về Bộ Tư Lệnh Thông Tin Liên lạc, ngay sau trận pháo của địch khóa đuôi của chiến dịch, với vết thương vào phần mềm của chân, không đi lại được. Lại cũng Chuột và một chiến sĩ tải thương khác cáng anh về Trạm Quân Y Trung đoàn ở hậu cứ. Chuột cười cười khi anh áy náy với tấm thân bồ tượng hơn 70kg của mình: nói anh đừng giận, chứ một mình em gánh rau lợn cho đơn vị nặng bảy tám mươi cân là thường. Một tuần sau, anh xuất viện về Trung đoàn bộ làm thủ tục chuyển về Hà Bắc rồi vào Nha Trang, với món nợ ân nghĩa canh cánh trong lòng: dò hỏi trong Trạm Quân Y, biết đơn vị máu tươi anh tiếp nhận được là từ chú đồng đội tải thương, có dáng loắt choắt như con chuột nhắt…
*
*  *
Mấy hôm sau, anh kể mọi chuyện cho tôi qua điện thoại (đúng là ruột để ngoài da, không chờ về đến nhà):

Trong đợt nghỉ, anh nhờ con trai đi xe máy về Trại An dưỡng đèo anh đi viếng 2 đám tang.
Đám đầu tiên ở Phú Bài, Huế: hai cha con anh như chìm trong đoàn người đi viếng, đông nhất là các Phòng, Ban, Ngành thuộc Tổng Công ty Thủy sản Xuất khẩu và các đơn vị trực thuộc, mà người trực tang ghi rất chi tiết: vòng hoa, trướng, liễn, hoa quả, số tiền viếng (một trăm ngàn đồng đi viếng của anh chắc chìm nghỉm trong bao nhiêu phong bì viếng khác). Nghe nói áo quan làm bằng gỗ pơ mú, giá đến mấy chục triệu đồng…
Đám thứ hai ở tận Diên Sanh, Quảng Trị lại khác hẳn. Có vài vòng hoa để trống, khách viếng chỉ cần nhờ viết tên lên băng tím cài vào rồi vòng hoa lại quay vòng. Lê Suốt, trưởng nam của Thông-Chuột (thay cha quản lý Cửa hàng Ăn uống Diên Sanh), đại diện Ban Lễ Tang đón tiếp anh và cùng thống nhất nội dung điếu văn. Thông báo được ghi trang trọng trên Bàn Tiếp Lễ và bên cạnh linh cữu, làm bằng gỗ pho lái đơn giản: Theo nguyện vọng cuối đời của người quá cố, tang quyến sẽ chuyển toàn bộ tiền phúng điếu cho Trại Trẻ SOS ở địa phương…


Tôi không nghe anh nói gì về nội dung điếu văn cho anh Thông-Chuột, nhưng tôi tin chắc rằng chồng tôi sẽ thay mặt các đồng đội, thoải mái nói lên tất cả tấm lòng của mình, rằng anh vẫn sống với dòng máu của Chuột trong cơ thể, trong khi Chuột đã ra đi với lòng tiếc thương của mọi người.

Thứ Năm, ngày 06 tháng 2 năm 2014

Truyện ngắn 16

CHUNG QUANH LY CAFÉ SÁNG
Truyện ngắn của Quỳnh Anh
Sáng nay, cơ quan họp muộn. Tôi tự cho phép thưởng thức café như sáng chủ nhật. Tráng xong lượt nước sôi, tôi thong thả cho một thìa rưỡi café Purio cho vào chiếc phin Vinalu, lắc cho bột café san đều mặt phin. Tôi nhấn chốt gài, chờ tiếng tách ngắt điện của bình đun nước siêu tốc để rưới đều nước sôi vừa chín thành vòng tròn quanh thành phin, đủ ngập nửa phin và nhẹ nhàng đậy nắp. 20 phút nữa, tôi sẽ rưới tiếp nửa phin nước sôi, để giữ đều độ nóng của phin cho café nở đều. Quy trình này được tôi duy trì hơn 25 năm nay vào mỗi sáng chủ nhật, tuy mất thời gian nhưng giúp tôi thưởng thức hương vị café tuyệt hảo… Chồng tôi quen dùng Nestcafé, anh ấy hay càu nhàu mỗi khi thấy tôi pha café mất thời gian quá. Biết sao được? Anh ấy còn chưa biết tôi tránh dùng nước máy, mà kỳ công trộn nửa nước mưa, nửa nước giếng theo đúng thuyết phối hợp âm-dương trước khi đun sôi nữa… Lặng lẽ nhìn từng giọt cà phê thánh thót rơi trong ly, tôi nhớ lại thời điểm mình bắt đầu học tính nết chỉn chu, hệ thống này.
Mùa hè năm 1982. Tôi vừa tốt nghiệp cấp ba ở Vinh, đánh liều nộp đơn thi vào Học viện Y Huế, sau lời động viên của cậu tôi, cán bộ Ban Tuyển sinh Bình Trị Thiên: dự thi ở Huế, cháu được cộng thêm điểm ưu tiên của diện con cán bộ, lợi tối thiểu 1-2 điểm so với diện bình thường. Tôi hy vọng nhiều vào điều này, vì với lực học loại Khá (hàng ngày còn bận giúp mẹ nuôi mấy con lợn), tôi khó sánh với học sinh xứ Huế vừa có tiếng thông minh, vừa thuộc loại chăm chỉ hạt bột, lại thường được gia đình ưu tiên cho học tập.
Trong mấy môn thi, tôi ớn nhất môn Toán, các khái niệm giải tích ở hệ 12 năm quá mới lạ với học sinh hệ 10 như tôi. Vì thế, Ba tôi nhờ anh Ngô, con một đồng nghiệp, ôn tập môn Toán cho tôi. Ấn tượng đầu tiên khi tiếp xúc với anh: con trai xứ Huế mà “tẩm” quá chừng, tên anh phải thêm dấu sắc nữa (Ngố) mới phải. Lập chương trình ôn tập, anh giải thích: đề Toán có phần tùy chọn 5 điểm, dành  cho 2 hệ 10 năm và 12 năm; vì thời gian eo hẹp, em nên tập trung vào phần chung và phần tùy chọn hệ 10 năm đã học ở phổ thông.
Chia chương trình thành các phần hàm số, phương trình, lượng giác và hình học, anh ôn lý thuyết rõ ràng rồi buộc tôi học nhập tâm những công thức toán; anh giải bài tập rất chi tiết, chấm bài thật khắc nghiệt, trừ điểm từng lỗi nhỏ: có lần làm bài thi thử, tôi tự đánh giá được tám điểm mà anh chấm có năm điểm rưỡi, làm tròn từ năm điểm một phần tư. Tôi hy vọng bài mình gặp phải giám khảo dễ tính, họ dễ có thiện cảm với nét chữ thường được chọn để viết giấy khen của tôi.Tôi chỉ mong đạt trung bình môn Toán, hy vọng trội hơn các đối thủ nhờ 2 môn Hóa và Sinh, vì tôi học Chuyên Hóa, phần Hóa hữu cơ cũng khá quen thuộc.
Học mấy tuần, tôi mới biết anh Ngô đang dạy Toán ở Đại học Y Huế (kết hợp với Bệnh viện Trung ương Huế thành Học viện Y Huế). Bộ môn Toán-Lý chỉ có mấy người, tôi khấp khởi mừng thầm - khi chấm thi, mình có tay trong rồi. Nhưng trông nét mặt nghiêm nghị của anh, tôi không dám mở lời, chỉ gần xa tâm sự với anh về tâm tư, nguyện vọng học ngành Y sau khi chứng kiến nỗi đau đớn và sự ra đi vì bệnh ung thư phổi của bà ngoại, mong anh thấy sự thuận lợi nếu may sao anh gặp đúng bài thi Toán của tôi. Vì thế, thi xong môn Toán, tôi đưa ngay giấy nháp (được ghi lại khá chi tiết, cùng nét chữ khá trau chuốt hy vọng anh nhớ rõ) nhờ anh chấm giúp, và muốn té xỉu khi anh kết luận một câu xanh rờn: bài sai sót nhiều quá, anh cho ba điểm một phần tư
Chạy Trời không khỏi nắng! Sau này, theo Ba tôi kể lại, anh có gặp riêng Ba tôi để thuật lại chuyện chấm thi. Theo nguyên tắc tuyển sinh hồi đó, bài thi của con em cán bộ chấm thi được rút riêng ra để chấm tập thể, nghĩa là bị cả 5 giám khảo mổ xẻ trước khi cho điểm, nên khó có điểm cao lắm. Tôi không thuộc diện này, nhưng anh lại chủ động tự giác báo với Tiểu ban chấm khi phát hiện ra bài thi của tôi (qua bài nháp tôi đưa, anh đã biết rõ về nội dung, hình thức), đề nghị chấm tập thể. Anh khăng khăng bảo vệ mức điểm quái ác 3.25, từ chối đề nghị ưu tiên chấm rộng lên của Trưởng Tiểu ban chấm Toán, vốn là bạn thân của anh: nếu cô ấy rớt, mình sẽ kèm tiếp để năm sau thi lại Cuối cùng, Tiểu ban thống nhất cho 3.5 điểm.
Tổng kết điểm thi, tôi được 16 điểm, trong khi điểm chuẩn tuyển vào là 17 cho đối tượng nhóm II như tôi: tôi không trúng tuyển, nhưng được xét vào học lớp Dự bị đại học (điểm chuẩn 15.5), một năm sau sẽ thi lên lớp Y1, khỏi thi tuyển quốc gia. Nhìn lại, tôi thấy mình chẳng học thêm được kiến thức mới gì từ anh cả. Nhưng Ba tôi đã khẳng định: anh Ngô đã tập cho tôi tính logic, có hệ thống, và hỏi thêm: không có anh ấy, với tính cách hớp tớp như con trước đây, liệu có đạt được ba điểm rưỡi Toán không?
Tôi tính ra: vào được Đại học Y hoàn toàn nhờ sức của mình, nếu có phải nhận 3.25 điểm Toán (như anh Ngố chấm) tôi vẫn đủ điểm vào Dự bị. Nhưng tôi tức anh ách với cái tính khắc nghiệt của anh, nên suốt một năm học môn Giải tích ở lớp Dự bị với anh, rồi một học kỳ năm Y1 học Toán cao cấp và Xác suất Thống kê, tôi không nói riêng với anh một tiếng, ngoài những lần buộc trả lời khi được gọi lên bảng, (vì tự ái, tôi luôn chuẩn bị cẩn thận để làm được bài, không để cho anh Ngố chê trách điểm nào). Anh cũng thản nhiên, đối xử với tôi như với người xa lạ: anh vẫn giảng bài kỹ lưỡng với cả lớp và chấm bài khắc nghiệt với từng sinh viên, như thời còn kèm cặp tôi ôn thi đại học.
*  *  *
Nửa phin café đầu tiên đã gần cạn. Tôi châm tiếp nửa phin nước sôi còn lại, hài lòng nhìn thấy tốc độ các giọt café vẫn tí tách đều đều, không đổi. Nhớ lại thời điểm bắt đầu cảm nhận giá trị của cách truyền đạt kiến thức của anh, thì cuộc đời của tôi và của anh đều bắt đầu bước sang trang mới…
Tôi tốt nghiệp bác sĩ năm 1989, khóa chuyên khoa cuối cùng trước khi Nhà trường chuyển sang đào tạo hệ đa khoa. Tôi tự đánh giá mình học không thật giỏi, dù trong 6 năm đại học, tôi đã có điều kiện tập trung sức lực, trí lực vào những môn chuyên ngành mình yêu thích, nhưng xếp loại năm nào cũng chỉ là hạng Khá. Điều bất ngờ là, kết thúc học kỳ I năm Y5, giáo sư V. đầu ngành Nhi khoa của Học viện đã thuyết phục tôi chọn chuyên ngành Nhi, ông rất tâm đắc với cách lập luận (khá logic, theo nhận xét của giáo sư - vốn nổi tiếng khắt khe) của tôi, thể hiện trong những buổi bình bệnh án từ năm Y4.
Tôi không dám kể cho Giáo sư biết nguồn gốc hình thành tính cách này (vốn xuất phát từ việc học môn Toán mà tôi vốn ác cảm từ môn học đến người dạy). Về sau, Giáo sư vô tình đả thông cho tôi về vai trò của anh Ngô qua nhận xét: trong ngành Y, môn Toán không chỉ nhằm giới thiệu các ứng dụng kiến thức toán học mà còn giúp người học luyện tính logic trong hoạt động chuyên môn như chẩn đoán, điều trị bệnh...
Sau kỳ thi tốt nghiệp, Giáo sư đề nghị Trường giữ tôi lại làm giảng viên Bộ môn Nhi: ông đã thuyết phục thành công Ban Giám hiệu châm chước cho điểm tổng kết khóa học chưa đạt loại Giỏi của tôi bằng tính logic, hệ thống thể hiện trong công việc chuyên môn hàng ngày. Giáo sư đã tận tình hướng dẫn tôi từ những bước đầu chập chững trong chuyên ngành Nhi khoa, đến những báo cáo đăng trong Nội san của Nhà trường, và cuối cùng trong bài báo khoa học đứng tên chung với Giáo sư (vinh dự thay!) in trong Tạp chí Nhi khoa Việt Nam, sau khi tôi đã trở thành giảng viên chính thức ở Bộ môn Nhi, Đại học Y Huế.
Từ đó, đường công danh của tôi thăng tiến như được rải thảm đỏ. Học xong chuyên khoa cấp I ngành Nhi khoa, tôi được Giáo sư đứng ra hướng dẫn làm luận văn Cao học, vài năm sau đó tiếp tục đồng hướng dẫn cho tôi làm luận án tiến sĩ, cùng với giáo sư Jane Green Schaller, người Đức. Đề tài của luận án - Ứng dụng logic mờ trong chẩn đoán một số bệnh nhi khoa - dựa trên nền tảng của logic học, được Hội đồng đánh giá tranh luận rất sôi nổi, cuối cùng được xếp loại Xuất sắc với số phiếu tuyệt đối. Trong Lời cảm ơn ở những trang đầu của luận án, cùng với Giáo sư V. và những thầy cô giáo khác, tôi trân trọng nhắc đến anh Ngô (tôi không dám thêm dấu sắc vào tên anh nữa), người bắt đầu khai sáng cho tôi về logic học…
Hiện nay, ngoài cương vị giảng viên chính Bộ môn Nhi, tôi còn tham gia một dự án cấp quốc gia về lĩnh vực nhi khoa mà Giáo sư V. là Chủ tịch danh dự. Gia đình tôi cũng ổn định đâu ra đó, chồng tôi sau hơn 35 năm giảng dạy ở Đại học Khoa học Huế, đang chuẩn bị nghỉ hưu và hai đứa con cũng đang học những năm cuối cùng bậc đại học. Trước những lời tâng bốc của bạn bè rằng tôi thuộc lớp phụ nữ Giỏi việc nước, Đảm việc nhà, tôi chỉ mỉm cười khiêm tốn, nhưng trong thâm tâm cảm thấy vô cùng tự hào…
Có vẻ như Số Mệnh đã quá hà khắc với anh Ngô, người thầy mực thước đã mở đầu cho con đường khoa học của tôi. Anh tham gia nghĩa vụ quân sự năm 1984 cùng với một số cán bộ khác của Đại học Y Huế (đã tách khỏi Học viện Y Huế), đóng quân ở Hà Tuyên, hy sinh trong một trận chống cường tập ở biên giới. Vợ anh tần tảo nuôi cậu con trai khôn lớn, gia đình nội ngoại đều ở xa nên chẳng trông cậy được bao nhiêu.
Mỗi năm Tết đến, tôi đều thăm hỏi, động viên hai mẹ con, nhưng thật khó tiếp cận cháu Huy con anh, rõ ràng ảnh hưởng tính khắc kỷ của cha. Cháu từ chối mọi giúp đỡ vật chất của tôi, lấy lý do gia đình đã đủ sống, cuối cùng mới đồng ý làm hồ sơ xin hưởng suất học bổng hàng năm, dành cho con liệt sĩ từng là cán bộ viên chức thuộc Trường, mà tôi nhân danh Chủ tịch Công đoàn cơ sở, đứng ra vận động. Mức học bổng này mang ý nghĩa tinh thần là chính so với những chi phí trang trải bằng đồng lương giáo viên cấp hai của mẹ cháu, tiêu chuẩn khiêm tốn của gia đình liệt sĩ và thu nhập làm thêm của hai mẹ con.
Tôi cảm thấy an ủi hơn khi biết cháu Huy theo học ngành Y đa khoa của Đại học Y Dược Huế, nơi tôi đã trưởng thành. Điểm khác biệt là cháu không vào Trường bằng cánh cửa hẹp như tôi: cháu trúng tuyển chính thức ngay lần thi tuyển đầu tiên, không cần nhờ đến tiêu chuẩn ưu tiên dành cho con liệt sĩ.
*  *  *
Nửa phin thứ hai đã xong. Tôi lấy nửa thìa đường vàng cho vào chiếc ly trống, nhỏ vào mấy giọt café và nghiêng ly lại, dùng thìa đánh nhanh vào thành ly liên tục trong mấy phút. Đường vàng thấm café dậy lên thành bọt kem, tạo hương vị thơm dịu. Tôi học được thủ thuật này từ thời bao cấp, được sản phẩm kem café thơm ngon, từ đó tôi luôn dùng thay sữa đặc khá hiếm thời kỳ đó. Mỗi lần thưởng thức hương vị đắng của café và thơm ngọt của kem café, tôi thường liên tưởng đến thành ngữ “khổ tận cam lai” của người xưa…
Tôi tiếp xúc nhiều với Huy từ hai năm nay, từ khi cháu bắt đầu ôn thi Cao học. Dù không theo dự một lớp ôn luyện nào (những lớp cấp tốc này thường chỉ tập trung vào việc phổ biến đề thi và bài giải mẫu các khóa trước), Huy vẫn vượt qua hai môn Toán cao cấp Thống kê và Giải phẫu học khá dễ dàng, có lẽ nhờ tư chất Toán thừa hưởng từ cha và sự miệt mài, chuyên cần của cháu trong sáu năm đại học. Cháu được miễn thi Ngoại ngữ, nhờ chứng chỉ tiếng Anh trình độ C và kết quả TOEFL đạt chuẩn 500 điểm.
Về định hướng nghiên cứu, cháu theo chuyên ngành Gây Mê, khác hẳn chuyên ngành Nhi của tôi. Nhưng càng học lên cao, sự giao thoa kiến thức giữa hai chuyên ngành khác nhau càng phong phú, đa dạng. Đề cương nghiên cứu của cháu - Về các phương pháp giảm đau sau phẫu thuật - khá gần với nền tảng logic mờ của dự án mà tôi tham gia. Do đó, tuy không trực tiếp đứng tên hướng dẫn, tôi vẫn theo dõi các kết quả của cháu và cung cấp cho cháu những tư liệu cần thiết, qua hộp thư điện tử mà cháu và tôi duy trì mối liên lạc (tôi khuyên cháu chưa vội tham gia mạng facebook, để tránh lãng phí thời gian vô ích).
Ngoài ra, tôi còn muốn tránh cho cháu vấn đề tế nhị trong mối quan hệ khá phức tạp với các giảng viên khi học Cao học. Một số học viên, nhất là những học viên kém chuyên môn, thường biện minh “cần cù bù khả năng” để ngụy trang mối quan hệ trên mức tình cảm với các giảng viên, thay cho lao động chất xám của mình – một thói quen xấu mà học viên khóa trước thường truyền lại cho học viên khóa sau. Tôi thảo một lá thư để ngỏ, đưa cháu chuyển cho thầy hướng dẫn, Tiến sĩ D. – khi còn học đại học là sinh viên của tôi. Trong thư, tôi xác định mình là người đỡ đầu cho Huy, con của người thầy giáo cũ đã quá cố, và nhờ D. giúp đỡ Huy về chuyên môn để đạt kết quả thật tốt! …mọi thứ khác để tôi lo liệu… Tôi tin chắc D. sẽ hiểu! Trong thâm tâm, tôi muốn phần nào đền đáp công sức của cha cháu trước đây giúp tôi bước vào ngưỡng cửa đại học, và hình thành cho tôi tính cách làm việc hệ thống, tạo tiền đề cho những thành công sau này, để cháu khỏi phân tâm về những việc nhiễu nhương, mà dành toàn tâm, toàn ý tập trung cho việc học.
Tôi nhận thư của Giáo sư Jane Green Schaller mời sang làm việc 3 tháng ở Đức, với tư cách thành viên Dự án. Đáp ứng lời mời, tôi chỉ cần sắp xếp công việc giảng dạy ở Bộ môn, nhờ đồng nghiệp dạy thay các học phần đại học và sau đại học còn dang dở, và dặn dò cô con gái út chu toàn việc nội trợ trong nhà. Việc liên lạc, hỗ trợ cho Huy (chỉ vợ chồng tôi và Tiến sĩ D. biết) có thể thực hiện bằng đường skype, đặc biệt ở Viện nghiên cứu bên Đức, tôi có điều kiện tìm thấy nhiều tài liệu quý hiếm hơn ở trong nước nhiều.
Ngày Huy bảo vệ luận văn Cao học, chắc tôi chưa về đến Việt Nam, nhưng dự tính mọi việc sẽ vào guồng như kế hoạch dự định. Nếu Huy biết tổng hợp lại các tài liệu được cung cấp, từ bảng phân loại các cơn đau sau phẫu thuật do chính tôi biên soạn dựa trên lý thuyết logic mờ, đến tài liệu tổng hợp các phương pháp nội ngoại khoa hiện đại nhất ở Âu Mỹ, chắc chắn Huy sẽ hoàn thành luận văn Cao học, vì qua các e.mail trao đổi, các ý kiến phản hồi của Huy chứng tỏ cháu đã đọc kỹ các tài liệu do tôi cung cấp… Tôi yên tâm bước lên máy bay, mãn nguyện khi đã lập xong kế hoạch cho những gì cần chuẩn bị…
Tôi hoàn thành công việc ở nước ngoài hai tuần trước khi visa hết hạn. Buổi sáng vừa nâng cốc với Giáo sư Schaller chúc mừng bài báo khoa học mới nhất vừa hoàn thành, đến tối tôi đã nhận được e.mail của Tiến sĩ D., người hướng dẫn luận văn của Huy: Thưa Cô, luận văn của Huy thành công rực rỡ (hầu hết các luận văn khi được đưa ra bảo vệ đều thành công). Bên cạnh bảng tổng hợp khá súc tích về các mức độ đau trích dẫn từ báo cáo khoa học của Cô, thành công lớn nhất của luận văn là sự so sánh và phối hợp Đông Tây Y khá nhuần nhuyễn giữa các biện pháp nội ngoại khoa với châm cứu, được nhiều chuyên gia quan tâm vì các tính chất phổ dụng (có thể nghiên cứu áp dụng ở tuyến Y tế xã) và chi phí thấp. Đặc biệt, khi trả lời các câu chất vấn thêm, Huy trả lời trôi chảy các câu hỏi về các thủ thuật châm cứu như điện châm, cấy chỉ vào huyệt, chứng tỏ sự thông hiểu không chỉ về lý thuyết mà cả thực hành. D. nhấn mạnh: trong Lời cảm ơn, khi Huy có nhắc đến sự quan tâm của Cô, em mới đoán ra vai trò của Cô; đến lúc em gặng hỏi, Huy mới xin lỗi em và đưa ra lá thư Cô gởi cho em từ mấy tháng trước - mà Huy cố tình giữ lại không chuyển…
Tôi bàng hoàng đọc thư, suy nghĩ một thoáng, và khẳng định trong e.mail trả lời: sự giúp đỡ của tôi chỉ thuần túy về mặt tư liệu mà Huy cũng như mọi sinh viên khác trong trường đều có, và tôi nhất trí với D. về dự định kết hợp với một số chuyên gia đầu ngành định hướng phát triển nghiên cứu của Huy. Bấm xong nút Send trên màn hình, tôi bần thần nhớ lại kỷ niệm trước đây với cha cháu lúc sinh thời. Lao động của Huy, thông qua luận văn vừa bảo vệ, thể hiện đúng tính cách thừa hưởng thầy Ngô: chỉ quan tâm đánh giá đúng thực chất của sự việc, không màng đến những chi tiết chung quanh. Hóa ra, tôi chỉ mới học được từ Thầy tính logic, chỉn chu, chứ với Huy, quả là: con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh…
*  *  *

Điện thoại réo rắt điệu nhạc quen thuộc. Tôi mở máy, đọc tin nhắn của tiến sĩ D.: “Chiều mai, mời Cô họp Hội đồng khoa học, xét việc chuyển tiếp nghiên cứu sinh cho Huy”. Tự nhiên ly café đắng ngắt. Tôi thấy chạnh lòng, không biết mình đã lạc hậu so với thời cuộc chưa?…

Thứ Bảy, ngày 30 tháng 3 năm 2013

Truyện ngắn 15


ĐÁNH GIÁ MỘT NHÂN CÁCH
Phụ nữ thường có thói quen dựa trên cảm tính khi đánh giá, rồi viện lý do đó để biện minh khi mắc sai lầm. Tôi tự cho là người khoa học, luôn tìm cách tránh vết bánh xe đổ đó trong công việc hàng ngày, cố gắng đánh giá mọi sự kiện đúng trình tự logic. Vậy mà, cuộc sống muôn mặt có những sự kiện vượt quá suy luận, quá óc tưởng tượng khá phong phú của tôi. Trường hợp gã Hai Xị là một dẫn chứng cụ thể…
*****
Tôi tiếp xúc với Hai Xị lần đầu cách đây hai năm, đúng ngày đầu tháng tư - Ngày Nói Dối.
Hôm đó mưa lất phất, trời mới chạng vạng mà đã tối sầm. Tôi chuẩn bị bàn giao phiên trực, định đi shopping thư giãn ở Plaza thì từ chiếc taxi dừng trước cửa, một phụ nữ nước ngoài vội vã bước xuống. Nét bối rối lo âu không làm mờ nhạt dáng dấp quý phái, cách chào hỏi, ăn nói của bà khách chứng tỏ phong cách đường bệ của tầng lớp quý tộc, đứng gần bà tôi thấy thoang thoảng mùi nước hoa Chanel No.5… Nhờ vốn tiếng Anh ở đại học cách đây mươi năm thỉnh thoảng vẫn dùng đến, cộng với khả năng diễn đạt chủ yếu bằng tay của người lái taxi, tôi nắm sơ được nội dung trình báo: bà là Monique Sylvestre, quốc tịch Pháp, hiện tạm trú tại Century Hotel, vừa mới đánh rơi một chiếc túi xách khi đi dạo trong công viên; ngoài một số vật dụng thông thường, trong túi xách có một số giấy tờ quan trọng mà bà rất mong chuộc lại nếu có người nhặt được… Tôi loay hoay làm biên bản, cố nén tiếng thở dài: thời buổi gạo châu củi quế này, người ngay rất dễ biến thành kẻ gian, tài sản cầm bằng mất hẳn, không biết có tìm lại được giấy tờ không? Tôi định ấp úng mấy lời chia buồn với bà Monique thì lại ngẩng lên: Hai Xị xuất hiện trước mặt, chiếc ba lô cũ mèm đeo sau lưng, lê đôi dép cao su mòn vẹt đế bước vào. Đó là một gã tuổi sồn sồn, tự khai là dân tộc Kinh lai Bahnar, loại thợ đụng trên địa bàn do tôi quản lý. Nghe đồn gã có thói quen mỗi đêm uống đủ 2 xị rượu mới ngủ được, lâu ngày kết thành tên luôn. Một nụ cười nửa miệng xuất hiện trên bộ mặt sứt sẹo cháy nám, tàn tích của bom napalm – bọn nhóc gọi gã là Quasimodo, tức Thằng Gù ở Nhà thờ Đức Bà của Victor Hugo. Tôi nghĩ, người yếu bóng vía ban đêm một mình thấy gã chắc xỉu mất, không biết gã dở hơi này định quấy rầy gì nữa? trước mắt, tôi vẫn phải giữ đúng tác phong người công an khu vực khi làm việc…
Tôi thấy rõ bà Monique né hẳn sang một bên tránh Hai Xị, chợt khuôn mặt đăm chiêu của bà sáng bừng, cười rạng rỡ khi thấy hắn lấy từ chiếc ba lô thổ tả ra chiếc túi xách tay hàng hiệu: đúng là Châu Về Hợp Phố rồi!… Tôi phấn khởi bắt tay chúc mừng bà, rồi làm luôn biên bản bàn giao chiếc túi xách nữ hiệu Gucci (chứa một phong bì giấy tờ dày cộm, có dấu niêm phong của Đại sứ quán Việt Nam ở Cộng hoà Pháp, bốn ngàn hai trăm bảy mươi ba Euro, hai triệu đồng tiền Việt Nam, một máy ảnh Canon EOS 6D, một điện thoại Luxor Las Vegas, vài thứ lặt vặt như hộp mỹ phẩm Shiseido và hộp danh thiếp ghi rõ tên Monique Sylvestre, doanh nhân), do công dân Đinh văn Hai, ngụ ở Lại Thế, Phú Thượng, Phú Vang nhặt được trao trả cho chủ nhân (tôi liên lạc luôn với Lễ tân Century Hotal để bổ sung số hộ chiếu của bà Monique Sylvestre, nhân tiện xác minh lại lai lịch của bà). Điểm đầu tiên làm tôi ngạc nhiên là khả năng ngoại ngữ của Hai Xị: sau mấy câu ngắc ngứ tiếng Anh tự giới thiệu, biết bà Monique là người Pháp, gã chuyễn sang dùng tiếng Pháp thật lưu loát, giọng mũi chính hiệu chứ không ngàn ngạt như đa số học viên lớp Pháp ngữ ban đêm. Đất nước mở cửa rồi nên tôi để cho gã nói thoải mái, nhưng trong thâm tâm, máu Sherlock Holmes nổi lên, gã học tiếng Pháp từ hồi nào mà thông thạo quá vậy? Ngoài ra, trông bề ngoài cũng biết Hai Xị chẳng dư giả gì, tại sao gã lại hoàn trả đủ các tài sản nhặt được, hay gã định bỏ con săn sắt, bắt con cá rô?
Sau khi ký nhận đầy đủ tài sản đã đánh rơi, bằng giọng nói lịch lãm mà chân thành, bà Monique xin phép tôi được thể hiện lòng biết ơn (bà bảo dù hôm nay là Ngày Nói Dối, nhưng bà rất thật lòng), bằng cách gọi điện đến Cửa hàng nội thất Hoàng Anh Gia Lai đặt mua cho trụ sở Công an phường một bộ bàn ghế tiếp khách loại I (chúng tôi đang phải tiếp khách tạm thời trên chiếc ghế băng thô sơ, vài chiếc ghế nhựa), sau khi tôi thay mặt Công an Phường kiên quyết từ chối mọi quà tặng hiện kim. Riêng với Hai Xị, bà Monique mời về Phòng Lễ tân của Century Hotel để nói chuyện nhiều hơn. Tôi định dặn Hai Xị nhớ giữ thể diện đất nước, đừng tối mắt trước của cải vật chất, nhưng lại thôi: gã có phải là đại diện đất nước hay cá nhân tôi đâu, bất quá gã cũng như mấy gã xích lô, xe ôm thường xuyên lượn lờ quanh đám khách nước ngoài, để mặc gã tự lo liệu…
Taxi đưa hai người đi rồi, tôi quên luôn dự định shopping, mở tủ hồ sơ, tỉ mẫn đọc lại bản lưu lý lịch tự khai của Hai Xị, đã được Công An huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai xác nhận thời gian trước 1986. Hai Xị tên đầy đủ là Đinh văn Hai (họ Đinh phổ biến của dân tộc Bahnar), năm nay 56 tuổi, quê quán ở Đức Cơ, Gia Lai. Tốt nghiệp phổ thông ở Pleiku năm 1974. Tham gia du kích gần 1 năm, bị thương do bom napalm, không là thương binh. (Tôi ngờ ngợ: học phổ thông rồi làm du kích, vốn tiếng Pháp từ đâu ra?) Sau ngày giải phóng, làm thợ hồ ở các tỉnh Tây nguyên, trôi nổi về quê nội ở Huế; năm 1987 lấy vợ quê Nghệ An, chưa có con, không hiểu sao lại chia tay. Nghề nghiệp: thợ hồ theo thời vụ, hợp đồng gác đêm ở Trường phổ thông cơ sở Trần hưng Đạo, có một giấy khen của địa phương hồi chống lụt năm 1999… Tôi không xa lạ với Đức Cơ: chính ủy trung đoàn trước khi tôi xuất ngũ đi học công an - bố Quýt đỡ đầu cho tôi - là thổ công Đức Cơ, đang nghỉ hưu ở đó…
Tôi gọi điện cho bố Quýt, hỏi thăm sức khoẻ và nhờ bố xem lại ở Công an Huyện, lý lịch Đinh văn Hai, hôm sau có thông tin phản hồi ngay: Đinh văn Hai có lý lịch chưa rõ ràng - hồi chống Mỹ, gã khai tham gia dân công, đến 04/1975 bị thương nặng, chữa thương ở Đức Cơ rồi tham gia du kích luôn vì đơn vị cũ đã bị xoá phiên hiệu. Công an ở đây làm việc qua loa (thật đáng trách), sau ngày giải phóng, thấy gã tuy uống rượu như nước lã nhưng công tác tích cực (mấy lần gã được xã đội tuyên dương về thành tích tháo gỡ bom mìn) nên không nghi ngờ gì, khi gã nói muốn nhận quê mẹ Đức Cơ làm quê gốc cũng đồng ý, xác nhận luôn vào lý lịch. Thời gian sau này, có mấy thông tin tố cáo Đinh văn Hai có thời gian tham gia quân đội Saigon trước tháng 04/1975. Tôi tự nhủ: sớm muộn phải thẩm tra lại chi tiết này, tuy Hai Xị không thuộc diện cốt cán để phát triển, nhưng theo nguyên tắc, tôi phải nắm được lai lịch của mọi người sinh hoạt trên địa bàn mình phụ trách chứ.
*****
Khoảng 2 tuần sau, tôi lại tiếp xúc với gã ở sân bay Pleiku, khi chờ chuyến bay trở về Đà Nẵng.
Lâu lắm tôi mới có dịp đi máy bay, từ khi giá vận chuyển hàng không tăng chóng mặt, so với đồng lương của cán bộ viên chức nhà nước. Mọi khi có việc đi Tây nguyên, tôi đều đi xe ô tô Quốc Toàn, một hãng xe uy tín, không tranh đua tốc độ giành khách với xe khác (tôi thấy không có gì vô duyên bằng chết vì tai nạn giao thông, mất mạng vì lỗi lầm không phải của mình). Lần này, bên cạnh việc thẩm tra lý lịch kết nạp Đảng cho một chiến sĩ trong ngành, tôi nhận thêm nhiệm vụ đặc biệt của đơn vị giao: chuyễn hài cốt của một liệt sĩ về quê. Mẹ Đinh thị Mằng được Nhà nước phong là Mẹ Anh Hùng vì có chồng và hai con đều là liệt sĩ, đơn vị Công an Phường do tôi phụ trách nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cho mẹ lúc tuổi già. Tuổi mẹ đã gần 90 nhưng vẫn rất minh mẫn, hàng tháng vẫn chống gậy ra thăm mộ chồng và con trai cả ở Nghĩa trang Liệt sĩ Huyện; Mẹ chỉ buồn vì anh Chung, con trai út chết mất xác trước ngày miền Nam giải phóng, tuy đã được công nhận liệt sĩ nhưng ở quê chỉ có mộ gió thôi, vì chưa xác định được phần mộ của anh ở đâu để chuyễn hài cốt về; Mẹ vẫn mơ ước có ngày đem được nắm xương anh Chung về quê nhà là Mẹ có thể yên tâm nhắm mắt…
Tuần trước, Sở Lao động - Thương binh Xã hội Gia Lai có điện về báo tìm được hài cốt của anh, báo lại cho các đơn vị liên quan thông tin về cho Mẹ. Một cơ sở cách mạng tìm được mộ phần của anh, trên cổ hài cốt gói trong tấm poncho vẫn còn tấm thẻ bài inox mang họ tên Hoàng văn Chung, KBC …… (hồi đó anh nhận nhiệm vụ làm nội gián trong Lực lượng Đặc biệt của sư đoàn Mãnh Hổ, đóng tại Đức Cơ). Thế là thỏa lòng mẹ Mằng rối! Anh chị em trong đơn vị tôi đều xem chuyện nhà Mẹ như chuyện nhà mình, vui vẻ đóng góp kinh phí để tôi đi máy bay lên Gia Lai rước anh Chung về với Mẹ cho nhanh chóng, thuận lợi. Ông xã tôi cũng hứa trong nom kỹ hai thằng nhóc khi tôi đi vắng…
Mọi việc đều suôn sẻ như ý đến ngày tôi nhận bàn giao hài cốt tại Hội trường Sở. Ông Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Gia Lai chủ trì buổi Lễ bàn giao (ngày trước chính ông đã trực tiếp giao nhiệm vụ, ông đã xác nhận để xét cấp chứng nhận liệt sĩ cho anh Chung), đứng bên cạnh ông là Hai Xị, gã mặc quần áo dân sự khác hẳn mọi bộ quân phục chung quanh, nghe mọi người nói chính gã đã tìm ra hài cốt anh Chung… Vấn đề nảy sinh: không ai biết thủ tục vận chuyển hài cốt theo đường hàng không thế nào, tôi định trả vé máy bay để đi xe ô tô, nói khó với lái xe chắc cũng êm, may thay con trai bố Quýt làm ở Cảng hàng không Pleiku đã làm giúp (tất nhiên, với sự có mặt của tôi) các công đoạn kiểm dịch y tế, đóng gói trong hòm cứng, làm thủ tục ký gởi trong khoang hàng hóa chuyến bay trở về Đà Nẵng của tôi. Thay mặt con, bố Quýt từ chối đề nghị của tôi xin thanh toán các chi phí, bố bảo xem như một món quà nhỏ cho người Mẹ Anh Hùng… Bận bịu theo thủ tục hành chính, tôi không nói chuyện với Hai Xị được, định bụng về Huế sẽ tìm đến nhà gã ở trọ hỏi chi tiết, và thay mặt đơn vị chính thức cảm ơn gã góp phần giúp chúng tôi hoàn thành trách nhiệm với mẹ Mằng...
Buổi chiều chờ máy bay ở Pleiku về Đà Nẵng, trong lúc vẫy tay tạm biệt con trai bố Quýt thì nghe tiếng chào, quay lại tôi thấy Hai Xị, sau lưng gã là khuôn mặt tươi cười của bà Monique. Trong bộ cánh sơ mi, quần tây, Hai Xị trong sáng sủa hẳn, gã thay mặt bà Monique mời tôi vào uống nước trong phòng chờ của sân bay. Tôi thong dong xách chiếc túi nhẹ tênh, chỉ có cặp giấy tờ đựng giấy xác nhận của Đảng bộ địa phương, phiếu hành lý ký gởi và hộp cà phê Gia Lai, quà cho đơn vị. Tôi định ngồi tại bàn giải khát thì bà Monique mời vào hẳn phòng trong, sau này tôi mới biết bà có thẻ máy bay loại kim cương, theo quy định có thể mời 2 khách giải khát miễn phí trong phòng chờ…
Hai Xị đóng vai phiên dịch giữa bà Monique và tôi thật hoàn hảo. Đúng ra, gã chỉ dịch sang tiếng Việt lời của bà Monique, bà đang trong trang thái phấn khích nên nói khá nhiều, khác hẳn thái độ điềm đạm quý phái lần trước tôi gặp. Mục đích của bà ở Việt Nam là tìm hài cốt con trai bà, phóng viên Michel Sylvestre tử nạn hồi tháng 04/1975, đốt thành tro và làm thủ tục mang cốt tro về Pháp. May mắn gặp Hai Xị hôm trao trả túi xách đánh rơi, qua buổi nói chuyện ở Phòng Lễ tân của Century Hotel, bà biết gã đã từng ở Đức Cơ và Pleiku hồi tháng 04/1975. Lần tiếp manh mối, khi bà kể chuyện đang đi tìm hài cốt của cậu con trai Michel Sylvestre, phóng viên biệt phái của báo Le Monde tử nạn ở Gia Lai, Hai Xị cho biết: thời điểm hỗn loạn tháng 04/1975, gã đã đi cùng chuyến xe bị nạn, chứng kiến cái chết và chôn cất Michel, gã hứa thu xếp đưa Monique đi Gia Lai tìm mộ Michel.
Trước khoản thù lao hậu hĩ, nhiều người dân địa phương sẵn sàng bỏ việc đồng áng, cùng Hai Xị đi tìm …ba tảng đá lớn chụm lại hình tam giác, nằm chênh chếch giữa cây cổ thụ lớn và rừng kơnia… trên quốc lộ 19, cách nơi đồn trú của Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ, khoảng 2 km về phía Pleiku. Đất đai vùng này chưa bị khai hoang mấy, sau hơn 30 năm vẫn còn dáng dấp cũ, chỉ sau hai ngày là Hai Xị tìm ra. Cùng chôn với Michel Sylvestre là một xác mang quân phục rằn ri, nhưng Hai Xị biết rõ đó là Victor Charlie (Việt Cộng, theo cách gọi của quân đội Mỹ)… Vì vậy, trước khi khai quật, Hai Xị liên hệ với Sở Lao động – Thương bình xã hội, tìm được ông Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh, ngày trước chính là cấp trên của anh Việt Cộng này: tấm thẻ bài còn đeo trên cổ ghi tên Hoàng văn Chung, là con út của mẹ Mằng, mà hài cốt đang được tôi làm thủ tục chuyễn về quê nhà.
Khi biết câu chuyện tìm hài cốt của anh Chung và phóng viên Sylvestre, những điểm tương đồng về không gian, thời gian giúp tôi đoán trước ý đồ tận dụng một công, đôi việc của Hai Xị. Tự nhiên, tôi thấy xót xa trước sức mạnh của đồng đô la Mỹ, hay đúng ra là đồng Euro của bà Monique - người mẹ Pháp đang mỉm cười trước mặt tôi, so với những công sức của đồng bào, đồng chí giúp tôi đưa anh Chung về. Trước công việc tìm hài cốt tưởng như mò kim đáy biển của bà Monique, những thủ tục hành chính rắc rối để vận chuyển (mà tôi đã may mắn vượt qua nhờ mối quan hệ giữa các đồng đội), bà Monique (và Hai Xị) đã dễ dàng hoàn tất bằng sức mạnh của đồng tiền. Nhìn lọ tro cốt khằn kín của anh phóng viên Michel, trang trí thật trang nhã trên nền sứ trắng, được bà Monique cẩn trọng đặt trong chiếc valise nhỏ bằng nhung, kèm tờ giấy có dấu kiểm dịch của Sở Y tế, tôi lẩn thẩn tự nghĩ, riêng chi phí mua chiếc valise nhung vỏ bọc chắc hơn hẳn chi phí vận chuyển anh Chung về với mẹ Mằng mà mọi người trong đơn vị tôi và đồng đội thân quen đã gom góp lại. Nhìn bà Monique lấy tờ 5 đô la pourboire cho người phục vụ, tôi thầm so sánh, giá vé xe Đà Nẵng – Huế chỉ bằng nửa chừng đó. Tự nhiên tôi thấy đắng miệng, không nhấp nổi ngụm nước suối mà người phục vụ đã lễ phép rót ra ly, lại bâng khuâng nghĩ đến công đoạn bắt xe từ sân bay Đà Nẵng ra Huế trong đêm tối, với chiếc hòm cứng bọc vải dầu, có anh Chung trong đó… May thay, trong 50 phút bay ngắn ngủi, bà Monique (thông qua phiên dịch Hai Xị) đã chủ động mời tôi cùng ra Huế trên chuyến xe đã đặt sẵn, tôi gượng cười mấp máy mấy lời cảm ơn bà, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh
Chiếc xe Camry vừa dừng trước nhà mẹ Mằng ở xã Thủy Dương gần quốc lộ 1, Hai Xị đang ngủ gà gật đã choàng tỉnh ngay, gã vội vàng rời ghế trước, lăng xăng ra mở cốp sau, giành bê chiếc hòm cứng bọc vải dầu mang vào sân nhà mẹ Mằng: trong nhà, mẹ đã thắp hương bàn thờ từ chập tối, trong nhà có mấy anh em trong đơn vị tôi đã đến trực nhà mẹ đêm nay, sáng mai chúng tôi sẽ đưa anh Chung ra Hội trường Xã làm Lễ rồi đưa vào Nghĩa trang Liệt sĩ Huyện. Tôi trực tiếp cảm ơn bà Monique, rồi gọi điện về nhà, báo với chồng con: tối nay ngủ lại ở nhà mẹ Mằng, có quá nhiều chuyện để tâm sự với Mẹ, và thầm nghĩ: mình không cần cảm ơn Hai Xị nữa, gã cũng chỉ làm thuê thôi - dù là làm thuê cao cấp, chắc chắn khoản tiền bà Monique bồi dưỡng đủ cho gã sống đổi đời rồi…
Một thời gian sau, Hai Xị làm đơn xin chuyển hộ khẩu về lại quê mẹ Đức Cơ, tôi lẳng lặng làm thủ tục cho gã ra đi, không có ý kiến gì.
*****
Bức màn bí mật về cuộc đời Hai Xị đã được vén lên sau đó một năm, khi ông Thành, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Gia Lai gặp tôi ở Huế trong chuyến du lịch thăm lại chiến trường xưa. Sau khi thăm mẹ Mằng, thắp hương ở Nghĩa trang Liệt sĩ Huyện, ông ghé thăm gia đình tôi, chuyển chai mật ong rừng của bố Quýt. Nhắc đến Hai Xị, ông thở dài: Phải mất nhiều thời gian, tra cứu lại tài liệu của nhân chứng đã chết, đối chiếu lời khai của người còn sống, chúng tôi mới xác định được vai trò của Đinh văn Hai trước 04/1975. Ông trầm ngâm nhớ lại rồi kể tiếp: năm 1974, tốt nghiệp tú tài, Hai tham gia du kích, phối hợp tác chiến với trung đoàn 12 quân chủ lực, sau đó nhận nhiệm vụ làm nội gián trong Lực lượng Đặc biệt của sư đoàn Mãnh Hổ tại Đức Cơ, vừa thành lập để giành lại quận Lệ Thanh đã bị quân giải phóng chiếm đóng. Tình cờ, Hai cứu sống vợ của chuẩn tướng CHH, tư lệnh Khu 24 Chiến thuật Đặc biệt, bị cơn lũ rừng cuốn trôi; Hai được chuẩn tướng tin dùng, bổ dụng làm thư ký riêng, vì Hai thông thạo ngoại ngữ, lại có ơn riêng. Sau một thời gian, nắm bắt được thông tin về sơ đồ bố phòng của Lực lượng đặc biệt, Hai chuyển tài liệu theo đường dây mật, đầu mối là anh Chung, đã được tôi cài vào Lực lượng từ trước. Dựa trên tài liệu đó, quân chủ lực đã tổ chức đánh trận quyết định, phá tan trụ sở của Lực lượng Đặc biệt, giải phóng Đức Cơ, làm chủ hoàn toàn mặt trận phía Tây Pleiku. Ông thở dài ngậm ngùi: Sau này, đối chiếu lại thông tin mới rõ: tháng 04/1975, hoạt động nội gián bị lộ, chiếc jeep có thư ký Hai và lái xe Chung, dù đã lấy danh nghĩa đưa phóng viên Michel Sylvestre ra sân bay Pleiku, bị mấy chiếc Skyraider oanh kích trên đường 19. Trong ba người trên xe, chỉ có Hai thoát chết, nhưng bị bom napalm đốt cháy cả người. Chôn cất Michel và Chung xong, Hai tìm về đến Đức Cơ dưỡng thương, rồi xin tham gia du kích tiếp. Khi đó, chính ủy Xuân, cấp trên của Hai đã chết, không có ai chứng nhận nên từ đó, Hai phải sống với lý lịch giả, hồi đó chủ nghĩa lý lịch nặng nề lắm, ai đã trót mang tiếng ngụy thì khó vươn lên được. Hai sinh tật uống rượu, bảo với bạn bè: uống để quên đời, rồi đi lưu lạc khắp nơi…
Mắt ông ánh lên niềm lạc quan: Ngẫu nhiên, bà Monique qua tìm hài cốt của con, tạo điều kiện cho Hai quay lại Đức Cơ tìm mộ Michel và Chung. Sau buổi Lễ Bàn giao hài cốt anh Chung, một cựu chiến bình đã tìm đến tôi, bàn giao cuốn sổ tay, di vật của đồng chí Xuân, chỉnh ủy trung đoàn 12, là người đã giao trách nhiệm làm nội gián cho Hai, trong đó có ghi rõ nội dung phân công, các hoạt động và thành tích của Hai. Sau một thời gian nghiên cứu, đối chiếu, cách đây 6 tháng, Tỉnh đội Gia Lai mời Đinh văn Hai lên làm thủ tục công nhận thành tích và đang đề nghị tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì cho Đinh văn Hai!
Trả lời thắc mắc của tôi về cuộc sống của Hai Xị ở Đức Cơ, liệu gã có trở thành đại gia trên đó không, ông Thành cười mỉm: Với tư cách là Chủ tịch Cựu chiến binh, tôi đang chủ trì một dự án cho vay vốn sản xuất nhỏ (micro-economic) tương đương 30.000 Euro: mỗi năm một đợt vào ngày Tết Quân đội, Dự Án cho 20 cựu chiến binh mượn 500 Euro/người trong 3 năm để sản xuất rồi hoàn trả vốn không tính lãi; sau 3 đợt như vậy, Dự Án sẽ lấy tiền trả của đợt 1 cho đợt 4 vay, rồi tiền trả đợt 2 cho đợt 5 vay, tiền trả của đợt 3 cho đợt 6 vay, cứ cuốn chiếu như thế, các cựu chiến binh trước sau gì cũng có vốn sản xuất. Riêng Đinh văn Hai vừa được công nhận là cựu chiến bình, xin hưởng chỉ một suất mượn vốn đợt 1. Cô vợ Nghệ An quay lại với Hai rồi, lên ở cùng trên này, xem ra hạnh phúc lắm. Câu kết của ông Thành giúp tôi hiểu ngay nguồn gốc của dự án này: tên dự án là Đinh Sylvestre!