Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

Truyện ngắn 48

 

DI DỜI KHU MỘ TỔ TIÊN

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Sau khi thắp mấy nén hương, lâm râm khấn vái trước bàn thờ, Ba gọi tôi vào Phòng đọc sách. Gọi là Phòng đọc sách của Gia đình, thật ra là Phòng khách dành riêng cho Ba… Phía sau chiếc tủ nhiều ngăn khá lớn, cao đến trần nhà, có cửa kính chắn bụi, chứa đủ loại sách Đông phương kim cổ mà Ba thường đọc, là bàn thờ gỗ gụ, với các bát hương của ông bà nội, thấp hơn một chút là của Mẹ, đã mất cách đây mấy năm, sau cơn bạo bệnh. Trước bàn thờ là bộ trường kỷ, thường chỉ dùng để tiếp khách trang trọng của Ba…

Lịch sử về bộ bàn thờ - trường kỷ được Ba kể lại, tôi còn nhớ rõ: đầu năm 1975, thấy chiếc bàn thờ cũ trong nhà đã hư hỏng, mục nát, Ba tìm mua ở Pleiku một khối gỗ cẩm lai, thuê chú Hiền thợ mộc có tay nghề cao, đóng chiếc bàn thờ mới, loại có chốt bằng thép thay mộng bằng gỗ để dễ tháo lắp, nhân tiện đóng luôn bộ trường kỷ… Ba Mẹ tôi vừa mới cúng xong bàn thờ mới, thắp được vài tuần hương, thì cuộc binh biến tháng tư ập đến đột ngột, không kịp trở tay… Tháng sáu năm đó, theo quy định, Ba bắt buộc phải trình diện rồi tập trung học tập cải tạo không biết đến khi nào - ban đầu Ủy ban chỉ phổ biến đem theo 10 ngày lương thực rồi cứ kéo dài mãi… Từ điều kiện vật chất tương đối đầy đủ của gia đình (khi đó, Ba đang là Đại tá, phụ trách Tổng cục Tiếp Vận), cả nhà bắt đầu lâm cảnh túng bấn. Thỉnh thoảng Mẹ phải bán đi một vài vật dụng trong nhà (quạt máy, radio-casette, ti vi, tủ đông lạnh…) để chi dụng hàng ngày. Để duy trì sinh hoạt của gia đình – anh hai và tôi còn ở cấp Tiểu học, Mẹ đã phải tận dụng khả năng học được từ thời con gái với bà ngoại để sinh nhai: hàng ngày làm yaourt, bỏ mối bán khắp thành phố. Công việc đòi hỏi bỏ giấc ngủ trưa để canh mặt trời, sưởi dưới nắng nóng, hoặc thức khuya ủ yaourt trong nước ấm ba sôi hai lạnh khi trở trời, kịp cất yaourt vừa lên men vào trong tủ lạnh - cũng may gia đình còn giữ được chiếc tủ lạnh Hitachi loại trung (trước đây để trong bếp, chỉ dùng cho gia nhân trong nhà), vừa đủ để ủ lạnh yaourt gần trăm thẩu và vài chục gói nylon bán lẻ. Trừ đi tiền điện nước, tiền bỏ mối yaourt hàng ngày, gom lại trong cả tháng vừa đủ cho chi phí thăm nuôi Ba vào đầu tháng, tính thực phẩm khô để bới xách và lộ phí để Mẹ đi đường từ Huế ra tận Hoàng Liên Sơn. Sức khỏe của Mẹ suy sụp dần nhưng Mẹ vẫn cố gượng… Thư Ba gởi về, ngoài việc hỏi thăm sức khỏe mấy mẹ con, phần tái bút có dặn rất kỹ: nhớ không được bán chiếc bàn thờ, cố giữ cho được bằng mọi giá! Đến giữa thập niên 80, Ba trở về nhà, thân thể gầy rộc, da đen sạm, mang theo theo giấy tờ ra trại với nhận xét: đã học tập cải tạo tốt; trong khi theo Ba là: còn sống được nhờ Ơn Trên phù hộ. Hồ sơ xuất cảnh theo diện HO được nhanh chóng hoàn thiện, mấy tháng sau, gia đình bốn người - Ba, Mẹ, anh hai và tôi - đã lọt qua đợt phỏng vấn và nhận vé máy bay sang nửa bên kia của Trái Đất! Trước khi đi, tận dụng tay nghề thợ mộc học được trong trại cải tạo, Ba tỉ mẩn tháo chiếc tủ thờ, bó gọn lại thành khối, gởi theo đường tàu biển sang địa chỉ cậu Hữu, em họ của Mẹ - đang học dở West Point ở New York, Hoa kỳ; ảnh thờ và bát hương thì Ba mang theo người. Riêng bộ trường kỷ, không tháo lắp được, tính tiền gởi theo thể tích thì quá đắt, đành để lại; Ba suy nghĩ rồi đem tặng dì Xuân, chị ruột của Mẹ, đã cùng anh Quang Huy - anh con dì con già của tôi, bằng tuổi anh hai Dũng – nhận trách nhiệm sẽ thay Ba - Ba và ông nội đều là độc đinh của dòng họ Trần, trông coi, hương khói mồ mả khu Trần tộc mộ địa của họ nội ở khu vực Ngũ Tây, phường An Tây, thành phố Huế, trong đó có phần mộ dượng Yêm, chồng dì Xuân, gốc gác tận miền Tây - sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, tử trận năm 1971, đang tạm trú trong phần mộ họ Trần nhà vợ… Gia đình tôi sang Mỹ, ban đầu tạm định cư ở quận Orange, bang California. Riêng Mẹ, sức lức đã mỏi mòn sau hơn mười năm một mình lo toan cho cả nhà, đã sụp đổ hẳn rồi ra đi vì lao phổi – một trong tứ chứng nan y thời xưa, chụp X-quang thấy hai buồng phổi chỉ còn hoạt động một ít ở chóp đỉnh… Là người rất tự trọng đến mức tự ái, Ba từ chối trợ cấp, giúp đỡ của bạn bè, sĩ quan dưới quyền trước đó, nhận lái xe cho hãng taxi Gold, làm việc ngày đêm để nuôi hai con ăn học… Hai mươi năm sau, anh hai Dũng tốt nghiệp Đại học Ngân hàng ở City University of Seattle, ban đầu được tuyển vào làm Kế toán viên, rồi cất nhắc làm Trưởng phòng Nghiệp Vụ Ngân hàng Goldman Sachs, còn tôi đang theo học Văn hóa Phương Đông năm cuối đại học ở Iowa State University, theo lời khuyên của Ba. Kinh tế gia đình đã khấm khá dần, anh hai khi lên chức Trưởng phòng, đã bỏ tiền mua đất và xây căn hộ khá tiện nghi ở Alum Rock Avenue phía Đông San Jose, vợ chồng anh dần dần nắm vai trò chủ chốt của gia đình trong việc chi tiêu (lúc này Mẹ đã mất), Ba và tôi sống chung nhà với vợ chồng anh (chị hai là Trưởng phòng Nhân sự cùng cơ quan) ở tầng hai - tôi chỉ giữ căn phòng nhỏ cuối dãy khi nghỉ hè về nhà... Cố khôi phục bộ trường kỷ, Ba chấp nhận bỏ tiền mua mấy tấc gỗ bocote ở Mexico có giá cao hơn loại cẩm lai ở Việt Nam nhiều, thuê thợ mộc đóng theo kích cỡ chuẩn - thỏa thuận xong mới biết tiền công thợ mộc ở đây gấp mấy lần tiền gỗ. Trường kỷ đóng xong được sắp trước bàn thờ; tầng hai trở thành giang sơn riêng của Ba: ngoài những công trình phụ, Ba chỉ ra Phòng đọc sách để trò chuyện với con cái hoặc khách bình thường, hoặc ngồi nghiền ngẫm cuốn sách nào Ba thấy hay ho, hay đọc tài liệu hiện đại trên laptop; bộ trường kỷ chỉ để tiếp khách lớn tuổi hơn Ba, như bậc cha chú…

Tôi đã định ngồi ở bàn đọc sách như mọi ngày, Ba đã bảo vào trong, ngồi đối diện Ba trên bộ trường kỷ. Ba thong thả chế ấm trà móc câu, đúng loại Tân Cương ở Thái Nguyên, nước trà trong như ngọc, loại Ba vẫn thường mua ở siêu thị 99 Ranch Market, mỗi ngày chỉ chế uống đúng một ấm. Tôi ngẩn ngơ, hình như đây là lần đầu Ba xử sự với tôi như bậc trưởng thượng… Quả nhiên, Ba đã nêu ra với tôi một vấn đề khá quan trọng: nhân dịp nghỉ hè, gần đến lễ Vu Lan, nhờ tôi thay mặt Ba đang ở tuổi chuối chín cây, về quê hương, chuẩn bị đất đai di dời khu mộ tổ tiên… Trả lời thắc mắc của tôi sao không cử anh hai, trưởng nam gia đình, trưởng tộc dòng họ, Ba lắc đầu: Nó đang lo cho cuộc họp Hội đồng Quản trị vào tháng sau, đâu có quan tâm chuyện này! Tôi chợt nhớ lại lần tranh luận căng thẳng giữa Ba và anh hai trong bữa ăn tối cuối tuần trước – hôm đó chị hai đi dự party sinh nhật bạn: Ba vừa đọc obituary - cáo phó - trên báo biết tin cậu Hữu, em họ của Mẹ, vừa quá cố ở thành phố Los Angeles, California, đề nghị anh hai thay mặt gia đình đến viếng tang, anh nhăn mặt, trả lời: Con đang vận động ý kiến ủng hộ của các thành viên Hội đồng Quản Trị để ứng cử vào chức vụ Phó Giám đốc, chắc bận lắm! Ba điện hỏi số tài khoản của Mợ hoặc các em con Cậu, con chuyển khoản ít tiền viếng tang là được rồi! Ba im lặng không nói gì, hôm sau chỉ lẳng lặng báo đi vắng khỏi nhà mấy ngày. Khi Ba trở về, soạn quần áo của Ba đem giặt, tôi mới thấy cuống vé khứ hồi San Jose – Los Angeles – San Jose trong túi áo… Tôi hỏi chuyện, Ba ngậm ngùi: Mợ Vy, vợ cậu Hữu, và các cháu rất xúc động khi Ba, dù tuổi cao, đã vượt hơn 300 miles đến thắp hương cho cậu Hữu, mợ bảo: ở đất khách quê người, nén hương của bà con cùng quê đủ làm ấm lòng cả nhà… Tôi càng hiểu tâm sự của Ba hơn khi nhớ lại các kiến thức Tâm lý ngành học đang theo đuổi. Thấy tôi im lặng, xem như đồng ý, Ba mỉm cười: Ngày mai Ba book vé khứ hồi Los Angeles – Đà Nẵng cho con, thứ bảy đi, còn ngày về vẫn để open, rồi Ba cầm smartphone hí hoáy một lúc, Ba chuyển vào tài khoản con tám ngàn đô, của Ba chỉ còn chừng đó… Tôi lẩn thẩn tính nhẩm: Ba đã trích 50% trợ cấp thất nghiệp hàng tháng để đưa cho vợ chồng anh hai, vậy dành dụm mấy năm mới được chừng này… rồi Ba trầm ngâm: Về đến Huế, con đừng ở nhà dì Xuân, có thể tạm trú ở nhà dì Huệ, em cậu Hữu, rồi liên hệ với bà con bên nội bàn chuyện mua đất quy tập phần mộ tổ tiên, dự phòng phải di dời phần mộ tổ tiên theo quy hoạch Công viên Văn hóa Ngự Bình. Dự kiến khu vực nhận di dời sẽ là Nghĩa trang Hương Hồ, ở Hương Trà và Nghĩa trang Phú Sơn, ở Hương Thủy. Nhưng có tới hàng ngàn ngôi mộ, địa điểm bố trí sẽ phân tán, khó chăm sóc. Với dì Xuân… Ba im lặng, rồi buông thõng: Ba ủy quyền, con cứ xem tình hình mà xử sự. Nhớ tôn chỉ là mộ di dời cần đặt gần nhau, tiện chăm sóc, các hương hồn ở thế giới bên kia vẫn thấy gần gũi nhau. Tôi uống cạn chén trà như cố nuốt hết lời căn dặn của Ba, thắp hết các bát hương trên bàn thờ, vái bốn cái, rồi quay về phòng, chuẩn bị hành lý, không quên mấy hộp chocolat cho Hồng, bạn thân thiết từ hồi tiểu học, thường xuyên liên lạc bằng e.mail với tôi. Kiểm tra lại tài khoản, ngoài khoản tiền Ba vừa chuyển, tôi vẫn còn mấy trăm đô la, tiền dành dụm khi tranh thủ làm thêm ngoài giờ học ở các quán ăn trong mấy năm học ở Iowa, đủ để chi tiêu cả tháng, không xâm phạm vào khoản tiền Ba gởi. Nghĩ lại, dù sao anh hai Dũng cũng hết lòng lo cho tôi khi hàng năm đều đặn chuyển tiền học phí đến Nhà trường, và tiền lưu trú cho tôi đến đại học xá…

* * *

Bất ngờ đầu tiên tôi gặp là sự chênh lệch giữa gia cảnh dì Huệ và dì Xuân; dù cùng là chị em họ - cậu Hữu, dì Huệ gọi ông ngoại tôi, tức là ba của dì Xuân và Mẹ tôi là cậu, nhưng điều kiện hai nhà thật khác biệt. Tôi chỉ nắm sơ lược thông tin: dì Huệ là cô giáo mầm non đã về hưu non, góa chồng từ khi còn trẻ, chỉ có một cậu con trai; dì Xuân là bác sĩ cũng đã nghỉ hưu, con trai là anh Huy làm ngành địa chính…

Tạm gởi hành lý ở Hồng, tôi đến tìm nhà dì Huệ theo địa chỉ Ba cho, ngớ người khi trông thấy mái nhà nửa tôle (dân địa phương gọi là tồn) nửa ngói, tường xây cũng hơn nửa bằng tableau ciment (dân còn gọi là bờ lô), còn lại xây bằng gạch thẻ đủ loại, là loại nhà mà tôi tưởng sang thế kỷ 21 không còn tồn tại nữa - hỏi Dì thêm mới biết, một phần tư dân địa phương này đều sinh hoạt trong những căn nhà tạm bợ như thế, riêng Dì nhờ cậu Hữu giúp một ít tiền mới mua được nhà này. Nói chuyện được một lát, một cậu thanh niên bước vào, chào tôi. Đó là Nghĩa, con trai duy nhất của Dì, trạc tuổi tôi, vừa tốt nghiệp Cao đẳng Ngân hàng, đang chạy xin việc, theo Dì kể. Chi nhánh Ngân hàng X đồng ý nhận Nghĩa vào làm nếu thỏa thuận hàng tháng giới thiệu khách hàng gởi tiết kiệm 50 triệu đồng. Suy đi tính lại, Nghĩa tìm đến Huy, con dì Xuân, là anh con cô con cậu – khi học đại học Kinh tế ngành Tài chính, Nghĩa đã làm đơn xin Tổ chức Khuyến học do anh Huy phụ trách, cho vay vốn để ăn học suốt bốn năm, sẽ trả dần khi ra Trường, nhưng bây giờ Huy lại từ chối gởi tiết kiệm vào Ngân hàng X để đầu tư tiền vào việc khác có lợi hơn, theo Nghĩa nhắc lại lời Huy: Trong công việc, không có anh em, bà con, họ hàng… chỉ có đối tác…, đồng thời rủ Nghĩa về giúp việc cho Huy ở Tổ chức Khuyến học, nhưng Nghĩa từ chối vì trái ngành nghề, lại không hy vọng có thu nhập… Tuy nhiên, điều làm tôi ngán sợ nhất nếu ở nhà dì Huệ, là chuyện giải quyết nỗi buồn nhà vệ sinh. Tình cờ, theo Dì ra sau nhà, rửa tay trong lu nước mưa, thấy Dì múc một gáo nước uống ngon lành, tôi lắc đầu từ chối khi Dì mời, Dì thản nhiên bảo tôi chờ một lát để Dì đi giải (!) rồi vào pha trà cho dễ uống, tôi thấy rõ Dì đến ngồi xổm khuất sau bụi dứa… Đến khi uống trà, Dì còn mời: Trưa con ở lại đây, ăn canh cá rô với Dì, cá rô nuôi béo, ngon lắm! Thoáng thấy ao cá có khung tre phía trên được che kín - đúng dạng cầu tõm, tôi vội vàng xin chiếc đĩa, đặt tờ 50 USD xin gởi cúng giỗ dượng Phú chồng Dì, sắp tới, lấy cớ đã hẹn ăn cơm với bạn Hồng, rồi theo xe ôm - dịch vụ này thật khó tìm thấy ở mọi tiểu bang đất Hoa kỳ - tìm đến một khách sạn vùng nhà dì Xuân trước đây – ký ức tôi nhớ rõ ở khu phố Vĩnh Lợi, nay là Phú Hội, được quy hoạch thành khu du lịch trông lạ hẳn. Tôi kiểm tra cẩn thận chất lượng toilette rồi yên tâm đưa hộ chiếu ra, báo với lễ tân sẽ ở lại khoảng hai tuần, hy vọng đến khi đó, công việc đã tạm ổn. Hỏi đến dì Trần thị Kim Xuân, vợ ông Lê Quang Yêm, vẫn không ai biết, đến khi nhắc đến tên Lê Quang Huy con Dì, thì mọi người mới cho biết: anh Huy thuộc Hội đồng Quản trị chuỗi khách sạn ở đây, kể cả khách sạn tôi đang ở. Ngoài ra, anh còn đang là đại gia ngành địa ốc ở thế giới bên kia… Tò mò, tôi hỏi thêm thông tin chi tiết từ chị phụ trách lễ tân: dì Xuân bị tai biến gần chục năm nay, tránh tiếp xúc bên ngoài gia đình, nên ít người biết, riêng anh Huy phụ trách địa chính của Thành phố, đang sở hữu nhiều lô đất, lớn bé có cả, có thể quy hoạch thành nghĩa trang gia đình, nên có khá nhiều người cầu cạnh. Huế là thành phố chú trọng tâm linh, đã có khu An Bằng, nổi tiếng trong và ngoài nước là Thành phố Ma, với nhiều ngôi mộ có chi phí xây dựng bằng cả ngôi biệt thự cao cấp, nhờ tiền con cháu ở nước ngoài gởi về… Trong quy hoạch thế kỷ 21, khá nhiều ngôi mộ cũ sẽ phải di dời (như Trần tộc mộ địa của họ nội tôi), đương nhiên anh Huy có quyền thao túng…, nghe nói giá đất mua cho một ngôi mộ cải táng ngoài quy hoạch khoảng hai chai (tiếng lóng của dân địa ốc, chỉ một triệu đồng). Thông tin này cho tôi thấy ngay con đường liên hệ mua đất để quy tập mồ mả, tính nhẩm khoản tiền hơn tám ngàn đô la (của cả hai cha con cộng lại) theo tỷ giá hối đoái trên thị trường chỉ hơn một nửa chi phí mua đất cho gần trăm ngôi mộ Trần tộc cần cải táng, hy vọng anh Huy nghĩ tình bà con (họ nội của tôi cũng là họ ngoại của anh Huy) mà tính gia hữu nghị cho Trần tộc chăng?

Tôi xin số điện thoại của anh Huy, gọi điện xin gặp anh để bàn chuyện mua đất xây Nghĩa trang cho gia đình. Tôi không muốn xưng là em con dì của anh Huy (tức Mẹ tôi, em ruột của dì Xuân), vì trước mắt, tôi muốn sòng phẳng trong công việc – anh Huy đã chẳng từng nói với Nghĩa, em con dì họ: Trong công việc, không có anh em, bà con, họ hàng… chỉ có đối tác khi từ chối làm sổ tiết kiệm, để giúp Nghĩa có việc làm sao? Anh Huy trả lời trên điện thoại rất lịch sự - với đối tác làm ăn nào chẳng lịch sự, báo đang bận việc ở Đà Nẵng – lại đang theo đuổi một dự án địa ốc ở thế giới bên kia chăng, xin hẹn tôi đến đầu tuần sau sẽ gặp mặt tại nhà để bàn chi tiết. Tôi lẳng lặng ra chợ Đông Ba mua ít hoa quả đến thăm dì Xuân, nghe nói Dì đang nằm liệt trên giường ở nhà, có người phục vụ 24/24 giờ bên cạnh…

Trông qua căn phòng dì Xuân đang nằm, với đầy đủ tiện nghi như vô tuyến truyền hình siêu mỏng, máy điều hòa không khí mát rượi, so với nhà dì Huệ, rõ ràng là hai thái cực… Tưởng chỉ là thủ tục thăm hỏi bình thường, hóa ra qua buổi nói chuyện với dì Xuân đang nằm bán thân bất toại trên giường, tôi mới vỡ vạc ra được khá nhiều chuyện không nghĩ ra được… Nghe tôi tự giới thiệu là con của ba Lý, dì hơi nhổm người lên rồi rơi phịch xuống giường sau khi cố gắng quá sức. Dì trỏ bộ trường kỷ kê đối diện giường cho tôi ngồi, kể lại chuyện ngày trước, giống như Ba tôi đã từng kể lại: Năm 1971, trước khi dì sang nhận hài cốt Dượng từ Đồi 31 ở Hạ Lào về, Ba con đã đấu tranh để nhà nội cho an táng Dượng trong khu Trần tộc mộ địa, dì nhớ mãi mấy từ rể thảo như con trai mà Ba con đã thuyết phục ông bà nội, để cuối cùng Dượng được yên nghỉ bao nhiêu năm ở đây… Bộ trường kỷ con đang ngồi đây, hồi đó dì nhận cho Ba con yên tâm, chờ con cháu Ba con về để bàn giao lại, chứ trước nghĩa cử của Ba con, dì dặn anh Huy phải thay mặt chăm sóc, hương khói khu Trần tộc Mộ địa, có cả phần mộ của Dượng, đến trọn đời. Tôi ngắt lời: Thưa Dì, cháu nghe nói hình như Tỉnh đã có kế hoạch di dời để xây dựng Công viên Văn hóa… Dì gật đầu: chuyện đó, thằng Huy làm bên Địa chính đã biết, đã chuẩn bị phương án xử lý. Đã từ lâu, nó đã thăm dò, tìm hiểu các khoảnh đất dự định quy hoạch làm Nghĩa trang, đã mua riêng một mảnh đất năm trăm mét vuông ở Giạ Lê, Hương Thủy, dưới dạng đền bù hoa màu trồng trọt, rất hợp phong thủy, tả thanh long, hữu bạch hổ, dưới chân có suổi chảy, dự định làm nghĩa trang dòng họ Lê… Tôi ngẩn ngơ: Nhưng mảnh đất lâu nay là của họ Trần mà. Dì mỉm cười: Trần tộc mộ địa trước đây chỉ hơn 200 mét vuông, nếu cải táng còn chiếm ít diện tích hơn nữa. Thằng Huy định chia mảnh đất đó ra làm hai phần, một bên cho họ Lê nhà nội, một bên cho họ Trần nhà ngoại. Bà con nội ngoại khi mãn phần đều có thể an táng ở đó, với điều kiện… Tôi hồi hộp: Điều kiện gì hả Dì? Dì trầm ngâm suy nghĩ rồi noi: Trước đây thằng Huy thích hoạt động từ thiện xã hội, nhưng bị lợi dụng nhiều quá. Chẳng hạn như nó thành lập Hội Khuyến học, cho sinh viên nghèo vay tiền ăn học, khi tốt nghiệp ra trường sẽ trả, chưa thấy ai trả mà nhiều sinh viên cứ nghĩ nó có nhiều tiền, lại tiếp tục khai thác… Tôi gật gù, nhớ đến trường hợp em Nghĩa, con dì Huệ. Dì tiếp tục: Rồi đến khu Nghĩa trang họ Trần, cứ tưởng là tạo điều kiện để bà con anh chị em ở thế giới bên kia quây quần cạnh nhau, không ngờ có nhiều gia đình hãnh tiến, tuy cùng họ nhưng xa đến mấy tầm đại bác, ỷ có tiền nên xây mộ phần người thân trong nhà quá sức hoành tráng, hơn cả mộ ông bà, cha mẹ…, trông cứ như lăng tẩm thu nhỏ của vua chúa ngày trước, nên thằng Huy yêu cầu… Tôi nghe cũng thấy sôi máu, hỏi luôn: Yêu cầu sao hả Dì? Dì nhẹ nhàng: Nó yêu cầu quy cách phải định sẳn từ trước, nếu ai muốn sửa sang cho mộ phần người thân thì phải xây cho mộ phần người trên trước hoành tráng hơn, thế thôi… Tôi thấy thông tin nắm bắt như thế đã tạm đủ, nên cúi chào dì Xuân, xin phép ra về…

* * *

Đầu tuần sau, anh Huy hẹn tôi gặp mặt ở quán cà phê S-line trước mặt nhà để nói chuyện, vì phải dành không gian cho mẹ nghỉ ngơi. Tôi đồng ý ngay, vì có những chuyện không tiện bàn trước dì Xuân. Vừa gặp mặt anh Huy, tôi cứ tưởng sẽ đóng vai trò đối tác làm ăn, thì anh đã vồn vã thăm hỏi sức khỏe dượng Trần Lý và anh hai Dũng, cứ như người thân trong họ. Tôi lễ phép trả lời các câu hỏi của anh, và hỏi luôn: Sao anh mới gặp đã biết em là con ba Lý? Anh mỉm cười, nhẹ nhàng: Thăm mạ Xuân của anh, ngồi lâu tâm sự chỉ có người thân trong họ. Anh đi xa, nhưng luôn theo dõi Mạ anh qua camera giám sát gắn trong phòng mà! Cuối cùng, anh hỏi: Em định làm đối tác, bàn việc gì với anh hôm nay? Tôi đổi giọng nghiêm chỉnh: Công việc Ba em ủy quyền, anh đã chuẩn bị xong cả rồi, rất chu đáo, đúng yêu cầu của Ba em! Thế anh định tiến hành thế nào? Anh cười: Anh chỉ chịu trách nhiệm các phần mộ của họ Lê thôi! Còn họ Trần bên em, đã cho ba anh tạm trú bấy lâu nay, giờ anh chỉ mời các cụ về làm láng giềng với họ anh, các thủ tục lễ nghi chắc phải phiền ba em hoặc chú hai Dũng! Tôi nhẹ nhàng: Em sẽ cố thuyết phục anh hai về Việt Nam thực hiện ước nguyện của Ba em. Em chỉ còn một nguyện vọng: xin anh nhận khoản đóng góp của Ba và em cho những hoạt động từ thiện trong giáo dục của anh! Tôi xin số tài khoản của anh, làm thủ tục chuyển toàn bộ tiền trong tài khoản sang, và đề nghị thêm: Em không dám đòi, mà chỉ xin anh, nếu có điều kiện, tạo điều kiện cho em Nghĩa, con dì Huệ có công ăn việc làm… Anh Huy gật gù: anh đã nhắn Nghĩa, đang cần người tin cẩn phụ trách kế toán, khi nào Nghĩa thu xếp được, cứ đến tìm anh…

Câu chuyện chỉ kết thúc hoàn toàn một tháng sau đó, sau cuộc bỏ phiếu thăm dò cương vị Phó Giám đốc Ngân hàng Goldman Sachs. Hóa ra, bà con của mợ Vy, vợ cậu Hữu đã quá cố, chiếm số cổ phần khá cao trong Ngân hàng, chỉ cần mợ lên tiếng ủng hộ con trai ông Chen Lee (Trần Lý) là cán cân lệch hẳn đi về phía Chen Zung (anh Dũng). Vô cùng phấn khởi, anh Dũng đã mua luôn mấy vé khứ hồi về Viêt Nam cho mẹ con mợ Vy, và xin tham gia đoàn thỉnh tro cốt cậu Hữu về yên nghỉ ở quê nhà, kết hợp làm lễ tạ khu Trần tộc mộ địa mới…

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2023

Truyện ngắn 47

 

GIẤC MƠ BLOUSE TRẮNG

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Ba đứa nhóm Tam Tài (tên tự đặt) chúng tôi – Hằng, Minh và Quỳnh - chơi thân với nhau từ nhỏ, cha đều là dân tập kết 1954 từ miền Trung ra đất Bắc, cùng ở khu tập thể Nam Đồng, chỉ khác nhà do được bố trí từ nhiều cơ quan, ngành nghề khác nhau. Ban đầu, ba ông còn độc thân, thường duy trì thói quen mỗi chiều thứ bảy tụ tập bên ghế đá công viên, uống nước lá do bác Huy (là công nhân chế biến lâm sản nên rất sẳn củi) nấu từ mấy ngọn lá cẩm voi tím (còn gọi là chằm khâu) - mà bác Ngôn đã mang về từ Tây Bắc sau chuyến tìm tòi, khảo sát các cây thuốc nam của Sở Y tế, trồng ở chậu cây ngoài mái hiên căn phòng Thành đội cấp cho chú Hoài em út (tức Ba tôi, hồi đó là thiếu úy quân nhân chuyên nghiệp), ba người thường vừa nhâm nhi cốc nước lá màu tím đặc sánh, vừa nhắc lại những kỷ niệm thời chiến ở mỗi vùng quê khác nhau như Hương Điền, Phú Lộc, Hương Phú … với các phương ngữ rất đặc trưng kiểu mô tê răng rứa, hàng xóm ở khu Nam Đồng há hốc miệng ra nghe, thỉnh thoảng phải nhờ phiên dịch lại... Rồi theo thời gian, bác Huy, bác Ngôn, ba tôi lần lượt lập gia đình, với quy định thống nhất: hễ người này làm chú rể thì hai người kia cùng làm phù rể, dù có người còn độc thân, chẳng có kinh nghiệm gì để hướng dẫn. Bác Huy lập gia đình đầu tiên với bác Lành (hồi đó còn gọi là o), công nhân cùng đơn vị nên hai người được nới rộng thêm mấy mét vuông của căn phòng độc thân ra đầu hồi. Lấy nhau trước nhưng hai bác lại muộn đường con cái, bác Ngôn lập gia đình sau một năm mà bác Hiền (tức bác Ngôn gái, một bác sĩ tuyến huyện) lại đến Bệnh viện E cùng thời gian với với bác Lành, rồi chị Hằng và anh Minh cất tiếng khóc chào đời gần như cùng một ngày; theo vai vế chị Hằng vẫn được xếp trên, nghiễm nhiên làm chị, dù sau này khi nô đùa với anh Minh vẫn cùng xưng hô mi, tau rất ngang hàng…

Tôi lại rủi ro nhất, chịu cảnh mồ côi mẹ khi mới lọt lòng. Quỳnh, mẹ tôi mất sau cas sinh khó ra tôi: dù mọi người đã tích cực chuyển cấp cứu từ Bệnh viện E về Bệnh viện Phụ Sản, nghe nói sau hội chẩn là chứng nhau tiền đạo, hồi đó ngành Y xử trí chưa linh hoạt như bây giờ… Biết cô dâu út của nhóm đang mất máu trầm trọng, các bác đã chìa tay ra ngay, sẳn sàng hiến máu, khổ nỗi máu của Mẹ thuộc nhóm AB dạng Rhkhá hiếm - chuyên môn chỉ nói thế, nên máu của mấy bác không tiếp được; riêng bác Lành lại cùng nhóm máu, bác tình nguyện hiến ngay 2 đơn vị (nghe đơn giản, nhưng thật ra cho đến gần nửa lít máu) để còn nước còn tát. Nhưng bệnh tình Mẹ quá nguy kịch, đến khi tôi cất được tiếng khóc oe oe đầu đời sau cú vỗ vào mông của cô y tá, Mẹ tôi chỉ kịp mỉm cười ngắm nhìn đứa con gái mới lọt lòng, rồi nhắm mắt, xuôi tay… Mọi người ngồi chờ ngoài Phòng Sinh đều khóc, tiếc thương sự ra đi của Mẹ khi bác sĩ ra báo tin buồn. Trong lúc bận rộn tổ chức lễ tang cho Mẹ, Ba tôi không cần hỏi ý kiến mọi người, đã đặt tên cho tôi trong khai sinh là Nguyễn thị Hoài Quỳnh, vừa ghép tên cha mẹ, vừa tỏ lòng tiếc thương đến Mẹ, xem tôi là hình bóng của Mẹ còn lưu lại.

Vấn đề phải lo tiếp theo là cách thức nuôi nấng tôi khi vắng bóng người mẹ… Lương thiếu úy chuyên nghiệp của Ba tôi khó có thể nuôi bộ bằng sữa ngoài lâu dài trong thời bao cấp: gia đình nhà nội tôi đều ở trong Phú Vang-Huế, cách con sông giới tuyến Bến Hải, nhà ngoại ở Vũ Thư, Thái Bình nghèo khổ - thiên hạ thường mỉa mai Thái Bình là đất ăn chơi, Tay bị, tay gậy, khắp nơi tung hoành, mẹ là con thứ trong đám con gà vịt năm đứa của ông bà ngoại, đã phải xin thoát ly sớm để gia đình đỡ miệng ăn… Cũng may, bán bà con xa, mua láng giềng gần, tuy chị Hằng đã hơn một tuổi, gia đình đã làm lễ thôi nôi gần hai tháng, nhưng vẫn còn bú sữa mẹ vì cơ thể bác Lành còn khá nhiều sữa, có lẽ do cơ địa di truyền từ gia đình. Sau khi bàn luận với vợ, bác Huy nhắn với Ba tôi ngày ngày đem tôi sang bú nhờ bác Lành: chị Hằng và tôi được nuôi dưỡng từ cùng một nguồn sữa mẹ; người lạ đến nhà thấy hai đứa nhỏ chia nhau bú hai bên ngực bác Lành, cứ tưởng hai đứa là chị em sinh đôi vì - nói trộm vía - trông tôi mạnh khỏe, cứng cáp hơn bọn trẻ cùng tuổi. Sau đó, Ba đã xin vợ chồng bác Huy cho Ba nhận chị Hằng là con đỡ đầu: cuối tháng Ba gởi biếu bác Huy khi cân đường, khi hộp sữa, tiếng là gởi cho cháu Hằng, thực ra là để cảm ơn tấm lòng hồn hậu của hai bác… Dần dần khi lớn lên, tôi bắt chước chị Hằng, gọi bác Lành là Mạ rất quen miệng - ba gia đình đồng hương chúng tôi thống nhất bắt con cái, khi ở trong nhà chỉ được nói theo giọng Huệ (Huế), ra ngoài đường thì tùy ý, nói theo giọng của cô bảo mẫu hoặc cô giáo cấp một (chúng tôi đều học cấp mầm non, mẫu giáo và tiểu học ở trường Trung Tự, cách khu Nam Đồng hơn cây số, từ nhà đến trường chỉ đi bộ chưa đến nửa tiếng)… Mấy năm sau, gia đình bác Huy-Lành và Ngôn-Hiền lần lượt sản xuất thêm hai chú nhóc, đúng tiêu chuẩn quy định của Nhà nước về số con một thiếu, hai vừa, ba thừa, bốn quá… Quân số gia đình tôi đã chấm hết sau khi mẹ mất, nhưng tôi nghiễm nhiên được lên chức chị khi có hai em Hồng và Hoàng đều nhỏ tuổi hơn mình…

***

Tôi giới thiệu hơi dài dòng về lịch sử quan hệ, để mọi người thấy rõ tuy thuộc ba gia đình riêng biệt, nhưng chúng tôi thân thiết với nhau như người trong một nhà, có việc gì quan trọng cũng báo với nhau và cùng bàn bạc, hỗ trợ nhau cùng giải quyết. Đến năm 1975, đất nước thống nhất, ba nhà chúng tôi lên kế hoạch cùng về quê nội Thừa thiên trong mươi ngày, bọn trẻ con chúng tôi được rảnh mấy tháng hè (tôi học sớm một năm, ba chị em chúng tôi đều đã xong lớp 9, đến hè năm sau là tốt nghiệp cấp 3), còn Ba tôi và các bác đều thống nhất đăng ký nghỉ phép năm từ đầu tháng 8, nhằm dự được Lễ Vu Lan ở quê. Ngoài mục đích thăm gia đình anh chị em, thắp hương ở mộ ông bà, cha mẹ (các cụ đều đã mất trong thời kỳ chiến tranh), cả ba gia đình đều có ý định tìm hiểu các cơ sở thành phố Huế để chuyển về ở gần quê công tác lâu dài, đồng thời định hướng cho con cái tiếp tục việc học… Hai em Hồng, Hoàng chỉ học xong lớp 6, sẽ làm đơn xin chuyển về trường cấp hai Hai Bà Trưng (được đổi tên từ Đồng Khánh – tên nhà vua triều Nguyễn có lẽ không hợp thời), nghe nói học sinh trường này có truyền thống hiếu học, hy vọng môi trường này sẽ thúc đẩy các em học tập chăm chỉ.

Kế hoạch về thăm quê đã định hình, nhưng số phận nghiệt ngã lại đưa chúng tôi đổi khác. Sau ba ngày nghỉ ngơi đón Xuân Bính Thìn 1976, chuẩn bị đi làm sau Tết, bác Lành thấy cảm lạnh, tay chân nhức mỏi, đau đầu, đau khớp, thỉnh thoảng lại bị chảy máu chân răng dù không nhai vật cứng. Nghi ngờ, bác Huy đưa vợ đến khám ở Bệnh viện E thì sau khi xét nghiệm máu, hội chẩn, tập thể y bác sĩ đề nghị chuyển sang Bệnh viện K; người ngoài ngành y cũng biết K (Ca) là cancer tức ung thư - ai nghe qua cũng tái mặt. Chỉ sau một tháng chạy chữa bệnh bạch cầu cấp (nghe tên thế thôi, chúng tôi có biết nghĩa là gì), bác Ngôn là Kế toán trưởng Bệnh viện Bạch Mai, có điều kiện nhất, đã gởi mua đủ thứ thuốc quý bên Trung quốc để giúp điều trị, nhưng vô vọng – Trời kêu ai nấy dạ thôi. Cuối cùng, bác Lành đã tìm gặp Mẹ tôi bên kia cầu Nại Hà - nói theo cách văn hoa của các nhà văn chuyên viết về thế giới bên kia. Trong đám tang, bác Huy, chị Hằng, em Hồng khóc ngất sau vành tang trắng, Ba tôi cũng khóc khi nhớ lại ngày tôi chào đời, hai đơn vị máu Bác tiếp không giúp cho Mẹ qua khỏi, nhưng cũng tiếp sức cho Mẹ cầm cự đến khi thấy được hình hài con gái trước khi nhắm mắt. Tôi và mọi người trong lễ tang nghe rõ lời hứa của chị Hằng trước linh cữu của mẹ trong buổi lễ Triêu Điện: Con hứa với Mạ, sẽ học ngành Y để giúp cho những người mắc chứng bệnh trầm kha như Mạ. Thắt khăn tang bà mẹ nuôi, đứng cạnh chị, tôi không nói gì, trong thâm tâm, tôi cũng tự hứa với Mạ Lành - người mẹ thứ hai, người vú đã nuôi tôi trưởng thành bằng dòng sữa ngọt ngào tình nghĩa: sẽ mặc cho được áo blouse trắng, đi chung đường với chị Hằng.

***

Thế là chuyến đi về quê giảm mất hai người: bác Lành đã yên nghỉ tạm thời (sau mấy năm, phải cải táng từ Văn Điển lên Bất Bạt) dưới ba tấc đất, và chị Hằng xin phép ở lại để tham dự lớp ôn tập chuyên Hóa và chuyên Sinh, những môn căn bản để thi tuyển vào Y khoa. Tôi nao nức vào thăm đất Huế - quê nội, nơi sử sách cho biết công chúa Huyền Trân đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình để mang về châu Ô, châu Lý cho đất nước, và không quên hứa với chị Hằng, sẽ tìm hiểu sự khác biệt của các môn Toán-Hóa-Sinh giữa hai hệ 10 năm và 12 năm, đồng thời tìm mua các tài liệu ôn thi nếu thấy cần thiết. Riêng anh Minh xem chừng không thiết tha lắm với chuyện thi đại học, anh bảo gia đình đã dọn đường sẳn cho anh: sau khi tốt nghiệp cấp ba, anh sẽ nhập ngũ rồi đi học trường sĩ quan một binh chủng nào đó, tốt nghiệp ra trường với cấp bậc thiếu úy, lương cũng không thua bác sĩ y khoa, bác Ngôn ba anh bảo thể. Trước mắt, trong chuyến về quê này, anh định lùng khắp thành phố Huế mua mấy bộ truyện kiếm hiệp của Kim Dung, thứ đó mà đem ra Bắc, anh tha hồ lên mặt với bạn bè cùng lứa…

Vào đến bến xe Nguyễn Hoàng, ba gia đình chúng tôi tạm chia tay để về các vùng quê thăm bà con họ hàng, hẹn năm ngày sau sẽ gặp mặt ở khu vực Cửa giữa chợ Đông Ba, cùng đi thăm thú Đại nội, các lăng tẩm… Tôi khó lòng kể hết những nơi đã cùng Ba đến thăm, trò chuyện và liên hệ chuyển công tác, chỉ thuật lại kết quả: bác Huy đã được nhận về Xưởng Chế biến Lâm sản của Ty Lâm nghiệp, bác Ngôn dự kiến sẽ phụ trách Phòng Nghiệp vụ Y của Ty Y Tế (bác Hiền cùng về Ty – sau này đổi thành Sở), và Ba tôi về công tác ở Thành đội Huế. Tôi đã tìm mua được các bộ sách Toán Giải tích, Hóa Hữu Cơ, Sinh Di Truyền là những tài liệu chắc sẽ cần thiết nếu chị Hằng và tôi đều ấp ủ mộng thi vào đại học y khoa Huế. Những người Ba tôi quen biết bên ngành giáo dục đều khuyên chúng tôi nên thi đại học, vì con cán bộ tập kết thuộc nhóm II (chỉ sau nhóm I gồm anh hùng cách mạng - dân tộc ít người – cán bộ, bộ đội đi học – con thương binh, liệt sĩ), điểm chuẩn thường thấp hơn mấy điểm, trong khi các thí sinh đối chọi nhau từng nửa điểm một trong cuộc thi hơn mười người chỉ chọn một. Đúng hạn hết phép, chúng tôi lại mua vé xe trở ra Hà Nội, hành lý thêm một thùng các tông đựng sách, mà hơn nửa là các bộ truyện kiếm hiệp mà anh Minh nằng nặc đòi hai bác Ngôn-Hiền mua cho bằng được…

***

Sau khi thi tốt nghiệp cấp ba, từ đầu mùa hè, bộ ba Tam tài Hằng-Minh-Quỳnh theo gia đình vào Huế, chuẩn bị thi tuyển vào đại học y khoa Huế, như hồ sơ đã đăng ký dự tuyển từ hồi sau Tết Nguyên Đán. Tôi rất thán phục tính kiên trì học tập của chị Hằng, những tài liệu có được, chị nghiền ngẫm đến thuộc lòng, mỗi khi truy bài lý thuyết Sinh, Hóa với tôi, chị đọc ro ro như mở băng cát xét, thậm chí còn nhắc tôi (đang say mê nghe chị trả bài) dở sang trang nếu quên. Cả ba người chúng tôi đều đăng ký theo học Lớp Luyện Thi cấp tốc ở đường Trương Định, một cơ sở tư nhân quy tụ nhiều giảng viên tăm tiếng, chuyên dạy ba môn Toán, Hóa, Sinh cho sinh viên năm đầu tiên Trường Đại học Y khoa. Chăm chỉ, chuyên cần nhất trong nhóm vẫn là chị Hằng, chị không bỏ buổi học nào dù trời mưa ướt át hay gió bấc lạnh lẽo, tôi cũng cố theo với chị những buổi thắng được con ma lười, riêng anh Minh chỉ học bữa đực bữa cái, anh bảo thi rớt y khoa vẫn vinh quang hơn (!) rớt ngành khác, hơn nữa anh được gia đình dự trữ sẳn con đường nhập ngũ từ trước.

Tình cờ, tôi làm quen với chị Minh Minh, trong Trung tâm Luyện Thi Cấp Tốc khối B. Tôi chú ý đến chị, ban đầu vì thấy tên kép Minh Minh nghe hay hay, lại trùng với tên anh Minh, con hai bác Ngôn-Hiền, sau gần gũi hơn vì thấy chị khá chăm học, có lẽ mực độ chuyên cần tương đương với chị Hằng. Qua tâm sự, tôi biết chị lớn hơn tôi mấy tuổi, sẽ thi đại học lần thứ hai, có vẻ thuộc con nhà khá giả: nhà chị ở phố Trần Hưng Đạo, cha là bác sĩ lưu dung ở Ty Y Tế (rất muốn con học y khoa như mình, đã thuê thầy kèm Toán tại gia cho chị từ đầu năm học), mẹ mở cửa hàng tơ lụa, chị đi học bằng xe Honda dame còn khá mới, trong khi đa số học sinh lóc cóc đạp xe. Có lần chị mời tôi sang quán giải khát đối diện Trung tâm ăn cốc yaourt, món này tôi rất thích vì có vị chua chua dễ chịu, nhưng kinh tế eo hẹp, tôi chi biết mời lại chị nước vối hàng sáng ba hái ở vườn nhà (tiếng là quê ở Hương Phú, nhưng nhà nội tôi ở Phú Thượng, cách Huế con hói Mộc Hàn), nấu rồi rót vào trong chiếc bi đông Trung quốc Ba được cấp, chuẩn bị cho tôi đi học, chị uống nước vối lạ miệng trông thích thú như tôi ăn yaourt vậy. Biết chị mặc cảm với lý lịch ngụy dân (chị thuộc nhóm III, điểm chuẩn để đậu vào còn cao hơn bọn tôi mấy điểm), tôi mạnh dạn giới thiệu chị Minh Minh với nhóm Tam Tài, chị khiêm tốn chào hỏi mọi người, xin mời cả nhóm một chầu yaourt để ra mắt (dĩ nhiên, tôi đồng ý ngay), nhóm được đổi tên là Tứ Quý. Ban đầu mọi người đều hòa đồng với nhau, nhưng về sau, có vẻ như anh Minh tránh tiếp xúc với chị (do người lạ, lại khác biệt giới tính chăng?). Thế là nhóm Tứ Quý chúng tôi cùng thi vào Đại học Y khoa Huế. Có 3 cụm thi đều ở gần nhau: chị Hằng thi ở Trường Đại học Y khoa, chị Minh Minh, anh Minh đều thi ở Trường Trung học Y tế, tôi thi ở Tiểu học Vĩnh Ninh. Một thời gian sau, khi đã khá thân thiết, chị Minh Minh tâm sự với tôi: có người đề nghị trả chị năm chỉ vàng để giúp con họ cùng thi vào đại học y khoa, ngồi cùng phòng trong cụm Trung học Y tế, với số báo danh YHB-… rất gần với chị, nếu bạn ấy đậu vào sẽ trả gấp đôi, thành một lượng vàng Kim Thành! Tôi ngẩn ngơ nghĩ: Ba mình có kể chuyện, vét mãi mới được năm phân vàng làm của để dành, mình đâu chơi sang kiểu nhà giàu như nhà nọ…, rồi hỏi: Thế chị tính sao? Chị úp mở mỉm cười: Chị đang suy nghĩ, có tiền riêng cũng hay, tiêu pha gì khỏi xin cha mẹ. Nghe nói mấy năm nữa sẽ ra đời loại Honda Cub 78, chị định lên đời xe… Tôi lẩn thẩn tự nghĩ, chị Hằng cũng như mình, chỉ biết dựa vào sức học là chính, để thực hiện lời hứa trước vong linh Mạ Lành, nghe chuyện chị Minh Minh như nghe chuyện viễn tưởng…

***

Đầu tháng 7, kết thúc kỳ thi tuyển, chúng tôi hồi hộp trông chờ kết quả. Các thầy dạy ở Trung tâm đều được điều động chấm thi tuyển sinh, chúng tôi chỉ biết quây quần mổ xẻ các đề thi, dự đoán đáp án, thang điểm và tự nhận xét, đánh giá bài làm của mình. Một vài thầy giáo ở trường phổ thông, quen biết với chúng tôi, đã góp ý bổ sung để hoàn chỉnh đáp án tự làm của các đề thi. Tựu trung, trong nhóm Tứ Quý, chị Hằng có nhiều hy vọng đậu nhất, chị Minh Minh có khó hơn vì thuộc nhóm III, phải thêm đạt mấy điểm nữa mới có khả năng, tôi chỉ hy vọng 50%, còn anh Minh lửng lơ, nói rất tiếu ngạo giang hồ: … Đợi hồi sau sẽ rõ…

Ngày treo bảng điểm cũng là ngày yết điểm chuẩn, cả nhóm Tứ Quý đều sững sờ vì không ai trúng tuyển cả! Đau nhất là chị Hằng, vì so với điểm chuẩn 16.5 điểm cho nhóm II, chị dự kiến vẫn đủ điểm. Cầm phiếu báo điểm trên tay, chị lớn tiếng phân tích: môn Toán chỉ 5.5 điểm là hợp lý, vì Hằng làm sai câu Đại số 2 điểm và bỏ câu Hình học 2 điểm, có thể trừ đi nửa điểm lập luận. Môn Sinh chỉ 4.0 điểm khi thí sinh cao điểm nhất là 6.5 điểm, cũng hợp lý. Riêng môn Hóa, thầy Duy dạy chuyên Hóa ở Quốc Học chấm bài nháp của Hằng được tối thiểu 7.0 điểm, mà yết bảng chỉ có 2.5 điểm là thậm vô lý! Xem lại thời hạn nộp đơn phúc khảo còn hơn 10 ngày, chị hí hoáy lấy giấy viết ngay đơn xin phúc khảo, kèm theo tờ giấy nháp thi Hóa có ghi lại đầy đủ như bài thi. Chị định gởi luôn cả bản chính Giấy chứng nhận Giải Nhì chuyên Hóa toàn quốc được cấp năm trước, cả nhóm khuyên đừng, lỡ thư lạc thì mất cả chì lẫn chài; góp chung cả nhóm được 5 đồng, chạy đến tiệm photocopy ở đường Trần Hưng Đạo duy nhất còn hoạt động ở Huế, sao một bản rồi đến Phòng Công chứng Thành phố đóng dấu sao y bản chính, tiền còn lại vừa đủ đóng lệ phí phúc khảo đúng môn Hóa. Nộp đơn xong, chị Hằng thắp hương ở bàn thờ Mạ Lành (cả nhà chị đang tạm trú ở khu tập thể Xưởng Chế biến Lâm sản), khấn: Con xin Mạ phù hộ cho sự thật được sáng tỏ, con quá ức chế với kết quả này. Bác Huy và nhóm Tứ Quý đều trấn an chị Hằng, khuyên chị giữ bình tỉnh, chờ kết quả, đồng thời tìm gặp thầy Châu, giáo viên dạy luyện thi Hóa của Trung tâm, đồng thời thuộc Tiểu ban chấm thi môn Hóa, để báo tình hình…

Không hiểu vì hương hồn Mạ Lành linh thiêng hay vì Ban Tuyển Sinh Trường làm việc tích cực, chỉ trong tuần sau, gia đình bác Huy nhận được giấy báo chị Hằng trúng tuyển vào Đại học Y khoa Huế, kèm theo những thủ tục theo quy định. Thời điểm này chậm mất mấy ngày so với các thí sinh trúng tuyển khác, dù trên phong bì có in dấu KHẨN; nét chữ viết cũng khác lạ, so với nét chữ chị Hằng ghi địa chỉ nhà trên phong bì có dán tem để Nhà trường gởi phiếu báo điểm. Dù sao cũng là tin quá mừng, chị Hằng đã kính cẩn đặt giấy trúng tuyển lên bàn thờ và thắp ba nén hương như một ngày giỗ lớn. Trưa hôm đó, theo ý bác Huy, chị Hằng nấu 2 loong nếp để đồ xôi, ít chè đậu xanh mời nhóm Tứ Quý về dự. Bất ngờ này nối tiếp bất ngờ khác: mấy hôm sau, lần lượt chị Minh Minh và tôi lần lượt nhận giấy báo trúng tuyển vào Trường Đại học Y khoa, cũng trong phong bì có con dấu KHẨN kỳ lạ. Khỏi nói ai cũng biết, gia đình chị Minh Minh tổ chức ăn mừng con gái trúng tuyển long trọng như thế nào. Hàng xóm chung quanh được mời dự cứ tưởng ai đó trong nhà chị Minh Minh lập gia đình với người nước ngoài. Nhóm Tứ Quý dĩ nhiên được mời đến dự, chia vui với chị (chị có dặn kỹ: đừng quà cáp gì, có mặt là chính). Hôm đó anh Minh không đến, cũng không ra quê ngoại, có thể anh đang chuẩn bị nhập ngũ theo phương án hai…

***

Thắc mắc của chúng tôi dần dần được sáng tỏ sau mấy năm học.

Học đến năm thứ ba, tôi đã làm quen với cán bộ, công nhân viên trong trường, đặc biệt ở các phòng hành chính, có những văn thư chuyên đánh máy tốc ký như cô Hảo. Thông tin giải tỏa cũng từ cô Hảo văn thư mà ra: mỗi đợt tuyển sinh, Nhà Trường điều động ba văn thư đánh máy vào Ban Thư ký, kết hợp với ba bác sĩ để nhập điểm theo phách của ba môn, rồi gởi kết quả ra Bộ, nhập điểm và tính điểm tổng theo số báo danh từng thí sinh, gởi trả về Trường. Quy trình này loại bỏ chuyện tiêu cực khi nhập điểm, vì từ điển phách chỉ có chủ tịch Hội đồng Tuyển sinh (Hiệu trưởng) nắm. Nhưng, đã chặt chẽ nơi này lại lỏng lẻo nơi khác! Bác sĩ Mỹ được phân công đọc biên bản chấm môn Hóa với cô Hảo, mới lần đầu tham gia tuyển sinh, chắc chưa ý thức nguyên tắc phải chính xác đến từng ly, đã đọc từng nhóm năm điểm một lần để nhập kết quả cho nhanh. Chỉ một giây lơ đểnh, bác đọc nhảy một số phách, từ đó về sau, người có số phách trên nhận điểm của người có số phách dưới. Cô Hảo cứ đánh máy theo tiếng đọc của bác Mỹ, và sai lầm cứ tiếp tục đến khi nhập điểm và tính tổng thành kết quả… Nhận được đơn khiếu nại và xin phúc khảo của thí sinh Hoàng thị Hằng, Ban Tuyển Sinh đã đối chiếu với biên bản chấm và phát hiện ngay: Hằng được hai cán bộ chấm thi môn Hóa thống nhất cho 8.5 điểm, lại được hưởng 2.5 điểm của thí sinh có số phách tiếp theo. Tất nhiên, Ban Tuyển sinh phải trả lại số điểm 8.5 cho thí sinh Hằng, thành ra điểm tổng thừa đến 1.5 điểm để trúng tuyển. Đồng thời, qua kiểm tra, một số thí sinh cũng bị hỏng oan vì môn Hóa, đã được chuyển thành đậu, như chị Minh Minh vừa đúng 18.5 (Toán 8.5, hai môn kia đều 5), tôi (Hoài Quỳnh) đúng 16.5, và một vài thí sinh khác. May là bổ sung thêm số đậu KHẨN (tạm gọi như vậy), số thí sinh gọi nhập học vẫn nằm trong chỉ tiêu tuyển sinh mà Bộ cho phép. Cái khó là xử lý các thí sinh đậu oan do sai lầm nhập điểm Hóa: Nhà trường đã phải thành lập một Hội đồng Chấm thi bổ sung mỗi môn Hóa để chấm lại các thí sinh này, sau đó mời các thí sinh đến để giải thích nếu kết quả thay đổi… Ngoài việc sửa sai điểm số ra, Nhà trường cũng đề ra biện pháp xử lý người gây hậu quả: sau nhiều lần gọi lên, mời xuống để thẩm tra, cô văn thư đánh máy Hảo được xác định vô can, trách nhiệm quy hẳn về bác sĩ Mỹ, thì vị này đã xin chuyển công tác vào miền Nam theo gia đình sau kỳ thi tuyển sinh. Do hậu quả sai sót đã được xử lý kịp thời, người có lỗi đã đi xa nên vụ án được khép lại…

Riêng anh Minh, với phiếu báo điểm 16.0 (Toán 6.0, Hóa 5.0, Sinh 5.0 – tôi thấy hơi lạ vì hai môn học thuộc anh đạt ngang ngửa điểm chị Minh Minh, và chị Hằng, dù anh khá lười học), chỉ thiếu có 0.5 điểm để đậu. Nghe bác Hiền kể, anh đã làm đơn phúc khảo môn Sinh, ban đầu nghe nói điểm phúc khảo do Phó Tiểu ban Sinh chấm là 5.5 (thế là đủ đậu rồi!), nhưng sau Nhà Trường báo lại, cả Tiểu ban Sinh 6 người chấm tập thể bài anh Minh vẫn thống nhất chỉ là 5.0, như vậy anh Minh đã đậu trúng cành mềm nên không trúng tuyển. Đợt nghĩa vụ quân sự tiếp theo, anh đã nhập ngũ một tháng rồi được đơn vị trả về địa phương do thiếu sức khỏe, sau đó bác Ngôn xin cho anh học lớp Kỹ thuật viên 3 năm, tổ chức ở trong Trường…

***

Hai mươi năm sau…

Nhóm Tứ Quý chúng tôi đã tương đối trưởng thành, hàng ngày vẫn mặc chiếc áo blouse trắng mơ ước từ thuở nhỏ: chị Hằng sau khi tốt nghiệp loại Giỏi, được Trường giữ lại làm cán bộ giảng dạy, đã bảo vệ luận án tiến sĩ và được phong hàm phó giáo sư. Với cương vị Chủ nhiệm Bộ môn Ung Bướu, chị đóng vai trò nòng cốt trong Trung tâm Hỗ trợ Bệnh nhân Ung Thư, với mục tiêu giảm bớt khó khăn cho những bệnh nhân mắc bệnh như Mạ Lành của chị ngày nào. Anh Minh đã là kỹ thuật viên lâu năm của Trung tâm Xét nghiệm Sở Y tế, hàng ngày vẫn truyền đạt kinh nghiệm thực hành cho những lứa đàn em, nghe nói đang cộng tác làm thêm với nhiều bệnh viện tư nhân, thu nhập hàng tháng cũng khá cao. Tôi tốt nghiệp chuyên khoa Phụ Sản, gắn bó với Trung tâm Bảo vệ Sức khỏe Bà Mẹ, Trẻ em và Kế hoạch hóa Gia đình, vì tôi khó quên lần hiến máu của Mạ Lành cho mẹ tôi, và nguồn sữa mẹ tôi đã bú chung với chị Hằng…

Thật thiếu sót nếu quên nhắc đến chị Minh Minh. Sau khi tốt nghiệp hệ Nội Nhi, chị hành nghề bác sĩ mấy năm ở huyện Phú Lộc rồi lập gia đình với Johnny Danh, một Việt kiều Mỹ, mấy năm sau sang định cư ở Los Angeles, đã có hai cháu trai. Bằng bác sĩ không sử dụng ở Mỹ được, chị lại đi học điều dưỡng, khi ra hành nghề cũng được bệnh nhân tín nhiệm. Tháng trước, về thăm quê, chị tìm đến tôi, mời đi ăn đặc sản, nhưng tôi đề nghị ghé quán yaourt đường Trương Định để nhắc lại kỷ niệm ngày nào. Đang ăn, nghĩ vẩn vơ, tự nhiên tôi buột miệng: Giờ đã đi xe Mercedès rồi, chị có nhớ ước muốn đi xe Cub 78 ngày trước không? Chị Minh Minh mỉm cười: Quỳnh nhắc chị mới nhớ. Ngày đó, chính chú Ngôn nhờ chị giúp Minh thi cho tốt, nhưng buổi thi Toán đầu tiên, Minh loay hoay để cán bộ coi thi cảnh cáo, chuyển Minh đến bàn cuối phòng, nên môn Toán chỉ chép được hơn nửa bài. Hai môn sau Sinh, Hóa được ngồi gần chị, nên điểm có khá hơn. Rồi chuyện phúc khảo môn Sinh, chị nghĩ khó thành công, họa chăng môn Hóa… Tôi nhận định: Mục đích của màu trắng áo blouse, ngoài việc nhắc nhở người mặc giữ vệ sinh, còn nhắc nhở ý thức giữ được tâm hồn mình trong sạch như màu áo, để mạnh dạn thực hiện thiên chức của người thầy thuốc. Chị Minh Minh gật gù: Chị đã qua những thăng trầm của cuộc sống nên rất hiểu em…

(ngày 27/02/2023 – 68 năm ngày Thầy thuốc Việt Nam)

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2022

Truyện ngắn 46

 <script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>

TRÒ ĐÙA CỦA SỐ PHẬN

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Vợ chồng chúng tôi sửng sốt nghe Quỳnh tâm sự với giọng buồn buồn sau khi chiêu một ngụm nước trà: Ban đầu, nghe chị Phương nhờ, Quỳnh rất vui và tự hào khi hai vợ chồng được mời đi họ nhà trai trong đám cưới con gái anh chị, đặc biệt chồng Quỳnh được lên sân khấu với chị Phương dù chưa có dâu, rể nào. Gia đình đã chuẩn bị áo xống nghiêm chỉnh từ hai tháng trước; bất ngờ, tháng qua, ông anh ruột ở nước ngoài bị đột tử! Anh ấy là anh trai duy nhất, quyền huynh thế phụ, Quỳnh chịu tang một năm, sách gọi là cơ niên, không đi họ được, chồng Quỳnh cũng vậy! Chồng tôi ngồi cạnh, im lặng lắng nghe, rồi lên tiếng hỏi: Anh thắc mắc một chút, ông xã của Quỳnh quen biết chị Phương như thế nào mà có thể thay mặt người cha chú rể quá cố của chú rể, cháu đích tôn dòng họ ở quê vậy? Quỳnh trầm ngâm hồi tưởng lại quá khứ, rồi hắng giọng: Chuyện đã lâu, hơn ba mươi năm trước, từ hồi chú rể chưa ra đời kia, anh muốn hiểu sự tình thì chịu khó nghe em kể lại chi tiết… Tôi cũng tò mò lắng nghe đầu đuôi câu chuyện liên quan đến gia đình thông gia tương lai.

***

Quỳnh đang ngồi cuối xe, sát cửa sổ trên chuyến xe buýt Huế-Ưu Điềm (sáng chủ nhật xe thưa khách, đang tạm ngưng ở ngã ba chợ Mỹ Chánh để vài khách xuống xe) thì thoáng thấy Tú, đồng nghiệp làm việc cùng Phòng: đeo sau lưng chiếc ba lô cũ mèm thường nhật, hắn đang mải miết guồng pédale (chỉ còn hai gọng sắt để đặt chân) của chiếc xe đạp (được nhiều người gọi là xe Hợp chủng quốc vì được lắp ghép đủ loại phụ tùng từ nhiều nước khác nhau) vượt qua cầu Mỹ Chánh, từ xa Quỳnh vẫn nghe rõ tiếng xe kêu (dù không có còi) xòng xọc, Quốc lộ IA chưa tu sửa đoạn này vẫn còn lắm ổ gà, ổ trâu, cả ổ voi. Ngừng suy nghĩ về Tú (hàng ngày đã gặp nhau ở cơ quan, hôm nay tình cờ gặp trên đường, chỉ có Quỳnh chợt thấy hắn, chứ hắn vẫn đang đăm đăm nhìn mặt đường, có gì lạ đâu), Quỳnh dặn lái xe: Đến bến đò Rèn cho tôi xuống, tự nhủ chỉ cần qua đò ngang, đi bộ hơn trăm mét đường đất là đến nhà thờ họ rồi. Hôm nay là ngày giỗ bà nội, ba mẹ còn đang công tác ở Hà Nội, uỷ nhiệm Quỳnh thay mặt gia đình (anh trai còn đi học xa), đem mấy thứ về thắp hương, và thăm chị Phương, chị con cô của Quỳnh. Chị đã lập gia đình với anh Dương cùng làng (nhà chồng gần nhà thờ họ), rồi cùng vào dạy học trong Quảng Nam; tháng trước nghe báo anh được chẩn đoán bị mắc ung thư xương, chuyển về bệnh viện Đà Nẵng chạy chữa đủ cách (kể cả tháo hẳn khớp chân phải) mà vô vọng, được Bệnh viện trả về nhà, cho ăn tiêu chuẩn tự do… Chị Phương khi đó mới có thai hai tháng, xin cơ quan nghỉ hậu sản sớm, kết hợp chăm sóc chồng vào những ngày cuối đời, chắc khó khăn lắm…

Vào nhà cha mẹ chồng chị Phương, Quỳnh bàng hoàng nhận ra anh Dương nhờ đôi mắt, vẫn sáng tinh anh trên thân thể ốm o, gầy guộc, đắp một tấm chăn chiên từ bụng (dù trời đang nắng, chắc để che phần chân đã cắt cụt), nằm ở chái Thổ Công của căn nhà ba gian nhỏ hẹp (theo lời bác Liên, mẹ anh kể lại, ba tháng hè năm trước, anh đã gánh mấy trăm gánh đất từ thửa ruộng trước nhà để san bằng, nâng nền nhà lên mười phân, tránh lụt sông Ô Lâu hàng năm). Quỳnh nhớ hình ảnh đám cưới hai năm trước, cũng tổ chức ở đây, trong sân che rạp trước nhà này, chị Phương và anh luôn vui vẻ, hạnh phúc chào đón khách đến dự tiệc; hồi đó trông anh cao lớn, khỏe mạnh (cầu thủ bóng chuyền của xã mà), mới có mấy năm mà hình dáng đã thay đổi quá nhiều do tật bệnh. Chị Phương tâm sự: cả gia đình đều hiểu phong lao cổ lại, tứ chứng nan y, thôi thì Trời kêu ai nấy dạ, cầu mong anh đủ sức chống chọi đến ngày con chào đời, tức là phải phải gần bảy tháng nữa. Nói chung, anh vẫn tỉnh táo, ăn mỗi bữa được một bát cơm, chỉ khi nào cơn đau ập đến, thường là vài ba ngày một lần, lúc chiều tối, anh mới la hét, chửi rủa, thậm chí văng tục, dù trước đây có tiếng là người nho nhã. Có người đề nghị tìm morphine tiêm cho anh dịu bớt cơn đau (ba anh trước đây là y tá nên biết tiêm bắp hay tiêm ven), anh kiên quyết từ chối thứ thuốc gây nghiện đó, dính vào thì liều lượng ngày càng phải tăng thêm, tốn tiền mà chỉ kéo dài cuộc sống đau khổ chứ không dứt bệnh được. Quỳnh ngậm ngùi ép chị Phương nhận chiếc phong bì vỏn vẹn ba trăm đồng, lương tháng vừa nhận cộng với tiền Mẹ đưa chỉ được chừng đó. Trước khi ra về, Quỳnh bàng hoàng nhận ra Tú, tên đồng nghiệp cùng Phòng, đang ngồi bên giường bệnh, cầm tay anh, nói chuyện với anh Thành, bác sĩ Bệnh viện Huyện, Quỳnh chỉ nghe được loáng thoáng … biệt dược… mua ngoài… Hóa ra hôm nay Tú cũng tìm đến đây, nhưng đạp xe theo đường làng, còn Quỳnh đi xe buýt về bên kia sông. Chị Phương cười buồn, cho hay khi Quỳnh hỏi chuyện: Tú là bạn thân, cùng học lớp đại học với anh Dương trong Huế, được gán bí danh Tú-nồi-ciment, vì hồi dự đám cưới cặp Dương-Phương, đã chở chiếc nồi đất đúc xi-măng trong thùng tôn từ Huế ra làm quà cưới (thời đó, quà đám cưới thường là vật dụng trong nhà – Quỳnh nhớ mình thay mặt gia đình đã mừng chiếc phích Trung quốc hai lít), mọi người cười to khi thấy cái nồi, chắc dự định trong tương lai sẽ lấy than cho bà đẻ sưởi ấm, nay nồi còn đó, mà cháu còn mấy tháng nữa mới chào đời, không biết có trông thấy mặt cha được không? Hồi anh Dương được chuyển từ Quảng Nam ra Đà Nẵng để can thiệp tháo khớp, Tú đã đến thăm bạn một lần, giờ Dương về quê chờ ngày ra đi, Tú lại đạp xe ra thăm lần nữa. Chị Phương lại sụt sùi khóc, Quỳnh an ủi đến nghẹn lời, lát sau lại xin kiếu vì đã đến giờ hẹn xe buýt Ưu Điềm ở bến đò bên kia sông để trở vào Huế…

Hàng ngày, Quỳnh làm việc chuyên môn ở Bệnh viện một buổi, một buổi làm hành chính ở Phòng đào tạo, nên khá bận rộn. Dòng thác công việc ở cơ quan cứ cuốn Quỳnh đi, nhiều khi quên cả mọi việc ở làng. Năm nay Trường tuyển sinh khá đông, chỉ tiêu Bộ Y Tế cho phép tuyển vào hai trăm sinh viên, mà hồ sơ dự tuyển nhận được lên đến hơn bốn ngàn. Người ngoại cuộc thường đánh giá khá đơn giản: mức độ khó khăn tùy thuộc tỷ lệ chọi, nếu thi mười chọn một thì cần vượt chín người là đủ, chứ thật ra còn ở số lượng thí sinh, thi 2000 chọn 200 thì cần vượt qua đến 1800 đối thủ lận. Với quy luật phổ biến Nhất Y, nhì Dược, đương nhiên thi tuyển vào Đại học Y là chuyện sinh tử rồi. Bác Thanh Viện phó (Trường và Bệnh viện nhập thành Học viện), tuy thuộc biên chế Bệnh Viện, được phân công phụ trách Tổ chức nên theo dõi rất sát hoạt động Tuyển sinh bên Trường. Con gái Bác là bạn học của Quỳnh, nên Bác dặn dò Quỳnh cẩn thận như con cháu trong nhà: Yêu cầu cao nhất của Tuyển sinh là tính công bằng. Ở Phòng Đào tạo, cháu chú ý ngăn chận các biểu hiện tiêu cực như quay cóp, chỉ bảo nhau trong phòng thi…, tệ hơn nữa là tìm cách tuồn đề thi ra ngoài để người khác giải. Quỳnh gật đầu: Dạ, cháu xin nghe, nhưng Bác yên tâm, ngoài Lãnh đạo Trường, Phòng của cháu còn có những cán bộ trẻ xông xáo, như anh Tú… Trả lời Quỳnh là cái bĩu môi: Thằng đó cũng là đối tượng đáng chú ý… Nội chuyện dạy thêm Toán ở lò luyện thi TĐ đã đủ kết luận rồi… Thật ra, như nhiều cán bộ khác trong Trường, lương và phụ cấp hàng tháng của anh Tú cũng chỉ đủ để chi dùng nhiều lắm mươi ngày, trừ phi được gia đình bao luôn ăn ở (như Quỳnh và vài người khác). Quỳnh biết, thu nhập bổ sung của anh Tú ở lò luyện thi chỉ khiêm tốn như TĐ ngang mức lương nhà nước hàng tháng, riêng những lò luyện lớn (hàng trăm học sinh, ngồi trong lớp chỉ loáng thoáng thấy mặt giáo viên, giảng dạy thường theo kiểu coiloirement - qua loa, hiểu theo cả hai nghĩa) mới đáng để chú ý. Rồi Quỳnh lẩn thẩn tự nghĩ, nếu nghi ngờ sự chính đáng của các lò luyện thi, vì sao Nhà nước không quy định cấm tuyệt mở lò luyện? Phải chăng giáo viên vẫn không thể sống chỉ dựa vào lương, như lời tuyên bố của một lãnh đạo ngành giáo dục, đã gây tranh cãi xôn xao trong ngành? Đúng là vấn nạn của ngành giáo dục… Rồi các sự cố lần lượt ập đến thật bất ngờ, gần như dự đoán mà bác Thanh đã tiên lượng… Khốn khổ thay, đối tượng mà Công An ngành Văn hóa chĩa mũi dùi vào lại là anh Tú, người mà Quỳnh dành nhiều thiện cảm, từ sau lời kể của chị Phương.

Theo lời tường thuật của anh Thường, cán bộ công an Thành phố đặc trách khối Học viện - Nhà trường báo cho bác Thanh: theo quần chúng báo lại, đúng quy luật mỗi người dân là một chiến sĩ công an, sáng thứ tư, ngày 5 tháng 7 vừa rồi, một nhóm vài người, trong đó có anh Tú, đã bán lấy tiền bài giải môn Toán thi vào Trường cho rất nhiều phụ huynh đang chờ đón thí sinh ở quanh quẩn ba điểm thi Đại học Y khoa, Trung học Y tế, Tiểu học Vĩnh Ninh: bài giải được in trên ba trang giấy A4 bằng chữ đánh máy, in ronéo, đóng agraphe thành từng tập 2 tờ. Mấy hôm sau, Công An Thành phố đã mời anh Tú đến làm tường thuật, anh thản nhiên khẳng định hành vi của mình, viết rõ trên bản tường thuật theo yêu cầu (bác Thanh có đưa cho Quỳnh xem photocopy bản tường thuật, do bên Công An chuyển giao): trưa 04/07, anh (được nghỉ tham gia tuyển sinh đại học để chuẩn bị ra Hà Nội thi tuyển nghiên cứu sinh ở Viện Toán) đã đến Trường, xin đề thi môn Toán (môn thi thứ nhất) của một thí sinh vừa thi xong ra về, ăn cơm xong là bắt tay vào giải đề thi thật chi tiết, rồi dùng bàn máy chữ Remington đánh lại bài giải (khá vất vả với những công thức Toán) trên ba tờ stencil Gestetner, và đem đến đưa cho người bạn (đã hẹn trước) nhận in ngay trong chiều hôm đó (trong khi thí sinh đang thi Sinh, môn thứ hai). Sáng hôm sau, anh đến nhận sớm mấy trăm bản, đóng agraphe và cùng một số anh em thân thiết bán lại cho các phụ huynh đang chờ con em mình thi Hóa, môn thứ ba. Dĩ nhiên, phụ huynh nào cũng sẳn sàng bỏ ra hai đồng bạc (chỉ bằng giá ba điếu thuốc lẻ) để mua bài giải khá chi tiết, cho con em mình tham khảo, thậm chí có người còn nhận xét: Lãnh đạo Nhà trường (?) cho cán bộ chuyên môn phổ biến bài giải chu đáo thế này, thí sinh có thi đỗ hay không cũng thấy thỏa dạ. Trả lời câu chất vấn của anh Thường: Anh có tự thấy mình vi phạm pháp luật không? anh Tú nhún vai: Tôi hoàn toàn theo đúng pháp luật, chỉ có đặc biệt là bán phá giá so với Bộ môn Toán trường QH.

***

(Nghe đến đây, chồng tôi xen vào: Ngay bây giờ, thực hiện chính sách thi tốt nghiệp 3 trong 1, Bộ Giáo dục – Đào tạo còn cho đăng đáp án sau mỗi buổi thi, phổ biến trên báo chí toàn quốc kia! Tôi quay lại, gắt nhỏ: Thì cứ lặng yên nghe Quỳnh kể tiếp đã! Chồng tôi rất ngoan, im bặt ngay. Quỳnh mỉm cười, kể tiếp).

***

… Điều tra kỹ hơn, Công An Thành phố mới phát hiện: mùa tuyển sinh năm trước, được Lãnh đạo Nhà trường đồng ý, Bộ môn Toán Trường chuyên QH đã phân công các thành viên làm công việc tương tự, mỗi người giải một câu của đề thi xin được, thuê người đánh máy rồi cho in roneo, bán ra ngoài cho phụ huynh thí sinh, giá bán bài giải bằng cả bao thuốc ngoại, nghĩa là đắt hơn rất nhiều lần so với giá bài giải anh Tú bán năm nay. Năm nay, cũng theo cách làm hợp pháp đó, anh Tú đã tự thân vận động, tự giải đề, tự đánh máy, thiếu điều tự đứng ra in (hình như kỹ thuật đương thời có tên gọi xê len, chỉ có dân trong ngành in mới thực hiện được). Đúng quy luật năng chuyến hơn khẳm đò, dù giá thành bài giải bán ra khá thấp nhưng nhờ tung ra sớm, đúng thời điểm nên bán được được số lượng lớn, nghe nói sau khi trừ công in, công nhờ bán hàng, anh Tú kiếm được hơn ngàn đồng, tính ra hơn nửa chỉ vàng, tương đương năm lần lương cán bộ trung cấp hồi đó. Cũng theo thông tin từ Công an Thành phố, một tuần sau ngày tuyển sinh đầy sự cố đó, Công An theo dõi, thấy anh Tú có lùng mua ở chợ Đông Ba hộp thuốc 10 ống Dolargan, loại biệt dược Pethidine Hydrochloride chống nhiễm trùng, khá hiếm gặp (ngay ở Bệnh viện Trung ương Huế cũng khó tìm ra), có lẽ là hàng xách tay mang từ nước ngoài về. Mọi nghi ngờ lại chuyển sang lĩnh vực hoạt động chính trị, nhưng lâu nay địa phương không có biến động nào dẫn đến chiến sự dù nhỏ, nên sự kiện này chỉ giữ lại trong hồ sơ lưu trữ của Công An Thành phố. Riêng Quỳnh chỉ suy nghĩ, anh Tú lao tâm, khổ tứ như vừa rồi để làm gì, phải chăng chỉ để tăng thêm chút thu nhập để tích lũy? Vợ con chưa có, cha mẹ chưa già yếu lắm phải phụng dưỡng, có vẻ anh Tú đã sớm lo toan chuyện kinh tế rồi. Những thiện cảm ban đầu dần tan biến.

Hai tháng sau…

Chị Phương gọi điện đến nhà Quỳnh, hẹn có thể trong tuần sau sẽ nhập viện, thai đã được 39 tuần rồi, theo dõi phát triển tốt như dự kiến. Khả năng khoảng trong tuần sau, cháu sẽ chào đời. Chị đang tạm trú ở nhà người quen gần Bệnh viện Trung Ương Huế, nhờ Quỳnh theo dõi thường xuyên, sẽ báo tin khi trở dạ, nhập viện, có thể nhờ Quỳnh khi phải can thiệp. Tội nghiệp, chồng chị mất tháng trước, sau khi được cha tiêm hết 9 ống Dolargan - anh Tú đã tìm mua đâu đó trong Huế rồi đạp xe mang ra, (theo gợi ý của bác sĩ Thanh, cứ 72 giờ tiêm một ống hoặc khi đau quá sức chịu đựng), hỏi giá bao nhiêu thì anh chỉ mỉm cười, lắc đầu không nói, chắc không rẻ vì gia đình điện thoại hỏi các bác sĩ ngoại khoa nổi tiếng ở Huế đều không tìm được. Thời gian đầu, sau mỗi lần tiêm, cơn đau giảm rõ rệt, gia dình khấp khởi hy vọng. Anh Tú bảo nếu hết thuốc cứ báo vào, anh sẽ nhờ chạy tìm tiếp và gởi ra, hy vọng kéo được đến ngày Dương thấy mặt con. Một ngày sau khi tiêm xong 8 ống, anh Dương lên cơn đau quằn quại rồi lịm dần, chắc khi đó đã lực tàn, sức kiệt, ba anh Dương tiêm tiếp ống nữa cũng chẳng hiệu quả gì. Anh Tú đang bận đi học minimum Ngoại ngữ đã đăng ký ở Hà Nội nên không về dự Lễ Nhập Liệm của anh Dương, chỉ nhắn tin, gia đình khỏi trả ống thuốc còn lưa lại, cứ chôn theo anh Dương. Cha anh Dương đã gói kỹ ống thuốc cuối cùng, định đưa vào quan tài khi nhập liệm, sau đó theo lời khuyên (chắc vì kiêng cữ), chỉ đặt cạnh năm lọ ngũ cốc rồi phủ tấm triệu lên, khi hạ khoán

Buổi sáng chị Phương trở dạ, mẹ anh Dương đã thuê xích lô đưa chị vào khoa Sản phụ từ sớm, rồi nhờ người đạp xe đến báo cho Quỳnh rồi anh Tú. Quỳnh khoác vội áo blouse, vào Phòng Sinh, thao tác chuyên môn giúp chị sinh nở bình thường, cháu trai khá nặng, không tã lót đã gần bốn cân, nhưng chị Phương, nhờ vòng hông hẹp đã vượt cạn không cần can thiệp; về mặt tinh thần, có thể những sự cố vừa qua đã giúp chị đủ nghị lực vượt qua những khó khăn, đau đớn về thể chất. Hôm đó, ngẫu nhiên, anh Tú trở thành chìa khóa mở kho cười: khi nghe cô y tá yêu cầu Người nhà của sản phụ Phương, mua bông gòn cho sản phụ, anh chạy bay đi, năm phút sau quay về với ba hộp bông gòn to tướng làm mọi người phì cười, anh lúng túng phân bua: họ bán một hộp ba đồng ba, mà tôi chỉ cầm tờ mười đồng… Quỳnh nhìn gương mặt nghệt ra của anh thấy tồi tội, mọi người cười rũ rượi, trêu sao không mua đủ mười hộp, chắc họ đều nghĩ anh lần đầu làm bố…

Đến ngày chị Phương xuất viện, Quỳnh bận làm giấy tờ thủ tục xuất viện, dặn anh Tú sang mua 2 vé xe ra Quảng Trị cho chị Phương và bà nội cháu, đi xe chỉ cần che kỹ, kín gió cho hai mẹ con, xuống ngay chợ Mỹ Chánh vì nhà ngoại ở ngay chợ. Nửa giờ sau anh quay lại với một anh chàng lạ hoắc, nghe gọi tên là Trung: hầu hết các tài xế xe buýt đều mê tín, không nhận chở sản phụ, chỉ có một ông người Bắc thường nhận chở, thì hôm đó đã chạy tài 1, đã xuất phát hồi 6 giờ sáng rồi. Có bệnh thì vái tứ phương, anh Tú hỏi mãi thì gặp anh Trung, bạn đồng đội cũ đang hành nghề đạp xích lô: anh Trung đồng ý chở sản phụ, cháu nhỏ và bà nội ra Mỹ Chánh với giá thỏa thuận (chắc không mềm chút nào), chỉ ngại đường xa, đoạn nào mệt thì xin nghỉ mươi phút. Anh Tú đồng ý, hẹn khi vào không chở ai, sẽ đổi tài, nhận đạp xích lô, nhường xe đạp cho anh Trung đi cho nhẹ… Cuối buổi chiều, Quỳnh ngồi ở quán chè ở cuối đường Thái Phiên, ngay Cửa Chánh Tây, thấy rõ anh Tú nặng nhọc đạp chiếc xích lô trên đường Lê Duẩn, tấm thân bồ tượng trên bảy chục cân uốn éo theo nhịp pédale xích lô trong đến tội, không ra dáng cán bộ trường đại học chút nào. Đúng là trăm hay không bằng tay quen, à mà ở đây là chân quen chứ…

Ngày đầy tháng cháu, Quỳnh được mời ra dự ở nhà ông bà ngoại, nghe nói ông bà nội muốn đem cháu về bên nhà nội để tổ chức thật long trọng nhưng chị Phương mới sinh dậy, còn yếu ớt, cháu chưa được cứng cáp mấy nên miễn cưỡng tổ chức ở nhà ngoại. Trong buổi tiệc mừng cẩm tháng, ông bà nội chắc đã hội ý trước, tuyên bố cho cháu nhận anh Tú làm cha đỡ đầu. Để đáp lại, anh Tú (đã ra từ sáng sớm) cũng xin phép nhận ông bà nội cháu là cha mẹ đỡ đầu, Quỳnh nghĩ chắc để tránh tiếng cho chị Phương. Khi Quỳnh nói suy nghĩ này với bà nội cháu, bà trầm ngâm rôi nhỏ giọng: hồi thằng Dương còn sống, tôi nghe rõ ràng nó nói với Tú: tao nhờ mày thay tao chăm sóc cho Phương và con tao, nó vào học được Y khoa thì quá tốt, chỉ thấy cháu Tú gật đầu nhận lời, mà chắc không nghĩ đến ý nghĩa sâu xa, con có cha như nhà có nóc, nếu cháu có cha dượng thương cả hai mẹ con nó thì còn gì hơn nữa? Tôi gật gù đồng ý, chị Phương vẫn còn son rỗi, gái một con mà hình thức vẫn như thiếu nữ mới lớn, nếu hai mẹ con có anh Tú làm chỗ dựa vững chãi thì còn gì hay hơn?

***

Chồng tôi lắng nghe từ đầu đến cuối, mỉm cười: Anh xin hỏi, chồng em bây giờ có phải tên là Tú không? Quỳnh đỏ mặt, ấp úng: Bên nhà nội cháu đã bật đèn xanh cho em rồi, chị Phương xem chừng rất có thiện cảm với anh Tú, nhưng quan trọng nhất là anh ấy, không biết ý tứ ra sao? Một lần, em đánh bạo đề cập với anh Tú, thì anh đã xua tay, ngắt lời: Các cụ đã dạy, có ba mối quan hệ nên tránh khi xây dựng tình cảm, để tránh những phiền lụy kéo theo theo: con thầy, vợ bạn, gái cơ quan… Em gượng gạo: Anh cũng cổ hủ như lời các cụ à? Anh Tú mỉm cười: Tôi mới cố tránh được vế thứ hai là vợ bạn, còn vế thứ ba (em giật mình, thấy anh đang cầm tay mình) tôi phải nói thêm với Quỳnh: Quân sư giúp bắn không trúng đích phải đền đạn đấy nhé! Rồi Ba Mẹ em lần đầu tiếp xúc với anh Tú đã có thiện cảm ngay. Thế là…

Chồng tôi cười dòn: Thế là rõ rồi! Anh Tú đã theo sách: Mía ngọt đánh cả cụm! Tránh cô chị, ta rị cô em… Tôi ngắt lời: Thôi đừng tán nhảm nữa! Vợ chồng Quỳnh đã kiêng không đi họ, nhưng chồng Quỳnh vẫn là cha đỡ đầu của rể nhà này! Nó học ngành Điện tử - Viễn Thông, lấy con nhà này là bác sĩ y khoa, đã phần nào thỏa mãn nguyện vọng của cha rồi! Hai vợ chồng nhớ ra tiệc mừng ở Nhà hàng nhé, sẽ dành hai chỗ ngồi trang trọng ở bàn Nhà Trai cho hai vị!

 

 

 

 



Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2022

Truyện ngắn 45

 

<script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>

TẠ LỖI TRÊN PHỐ NÚI

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Ngồi cạnh chị Lành giám đốc, cùng bàn ăn với các cán bộ chủ chốt trong tiệc tổng kết năm của Trung tâm tại quán ăn Thi Huỳnh, nghe rõ tiếng tít tít nho nhỏ, báo có tin nhắn của chiếc Iphone Galaxy A53 xám tro, thấy Chị với tay lấy chiếc xắc tay Idigo mắc sau lưng ghế, mở hộp nhựa lấy chiếc kính lão Y805, tôi thầm nghĩ: bốn năm nữa Chị mới nghỉ hưu, mà giờ đọc chữ phải mang kính lão rồi! Công việc căng thẳng thật! Chị nheo mắt đọc rồi đưa điện thoại tôi xem – tiếng là Trợ lý giám đốc nhưng tôi thân thiết với Chị như ruột thịt. Tin nhắn của con gái Chị, đang học lớp tại chức Nông học, ngắn gọn như tính cách của nó: Thầy Lâm Huỳnh ở Huế. Coffee No 1 Garden. Mẹ có quen thì đến. Trái với phong thái tự tin, đĩnh đạc hàng ngày, Chị ấp úng với tôi: thầy Huỳnh dạy Toán lớp Cử tuyển hồi đó, Quỳnh nhớ không? Chị quay qua anh Rân, Kế toán trưởng: Chị đi có việc, chú thanh toán bữa tiệc, nhớ lấy hóa đơn tài chính nhé! Lái xe Minh ở bàn bên cạnh nốc cạn ly Bò húc, đứng lên bấm điều khiển mở cửa xe, sếp đã đi thì chẳng có lý do ngồi lại.

Chị Lành kéo tay tôi: Đi luôn Quỳnh! Tôi dạ nhỏ, trong đầu chầm chậm nhớ lại kỷ niệm của lớp học trong quá khứ đã hơn chục năm… Khi được Sở Y tế Quảng Nam gợi ý cử đi học hệ Chuyên tu Cử tuyển ở Huế, chuẩn bị cơ cấu phụ trách Trung tâm Y tế huyện Trà My – đứng đầu ngành ở vùng dân tộc chúng tôi thường phải là người đồng bào sở tại, cùng với yêu cầu xin mua bốn khối gỗ loại một theo giá thỏa thuận để hoàn thiện căn nhà đang xây, Chị nằng nặc đòi có tôi tháp tùng trong cả khóa học, để làm chỗ dựa học tập vững chắc cho Chị: đơn giản, Chị biết trước khi học trung học Y tế, tôi đã tốt nghiệp phổ thông trung học loại Khá ở Tam Kỳ, có thể giải quyết dễ như trò đùa các bài tập khó những môn cơ bản – mặt yếu của sinh viên Chuyên tu. Chuỗi quá khứ lần lượt lướt qua trong ký ức tôi như cuốn phim quay chậm.

***

Danh sách lớp Chuyên tu Cử Tuyển của chúng tôi có hơn 40 người, được lọc kỹ từ các Trung tâm Y tế của miền Trung, Tây nguyên. Tỉnh Quảng Nam có ba, chị Lành và tôi ở Trà My, cùng anh Rao ở Đông Giang. Chị Lành lớn tuổi nhất lớp, có dáng vẻ lãnh đạo nên được bác sĩ Ngọc, Chủ nhiệm lớp chỉ định làm lớp phó đời sống, có nhiệm vụ phối hợp với lớp trưởng ALăng Sơn quan hệ với các cán bộ, đặc biệt là các giáo viên giảng dạy. Trong buổi sinh hoạt đầu tiên của Lớp, tôi được các bạn đề cử làm lớp phó học tập, có lẽ mọi người đã ngưỡng mộ bản sao học bạ cấp ba toàn điểm chín/mười và tấm bằng đỏ do Trường trung học Y tế Tam Kỳ cấp, dù tôi chẳng phải nỗ lực gì nhiều trong mấy năm học ở đó; nhưng bác Ngọc đã chuyển tôi sang làm Hội trưởng Hội sinh viên, vì theo cơ cấu, Ban Cán sự Lớp, cũng là cấp ủy Chi bộ, phải phân phối đều cho các địa phương. Anh Lê Mưu ở A Lưới được chỉ định làm Lớp phó học tập, bấm khẽ và nói nhỏ với tôi: Nếu Tổ học tập có khó khăn gì, nhờ Hội Sinh viên hỗ trợ nhé! Tôi miễn cưỡng gật đầu.

Năm đầu tiên của Lớp, sinh viên chỉ học ôn ba môn cơ bản Toán-Hóa-Sinh, cuối năm sẽ kiểm tra lên lớp – ba năm tiếp sẽ nhập với nhóm thi tuyển vào, tập trung học chuyên môn. Lịch học ôn cơ bản được phân đều trong sáu buổi sáng liên tục của tuần, chủ nhật được nghỉ xả hơi. Môn nào cũng lên lớp một lèo cả buổi bốn tiết, có giải lao mười lăm phút giữa buổi, sinh viên theo học hoa cả mắt, nhất là các anh chị lớn tuổi như chị Lành. Ngay cả tôi và một số bạn trẻ, vốn quen thuộc các công đoạn tính toán hồi cấp ba, đến tiết cuối cùng buổi học, đầu óc như bị cùn hẳn đi, nếu được gọi lên bảng cứ ấy a ấp úng kiểu chó ăn vụng bột, như các bạn lớn tuổi. Các thầy giáo vẫn tỉnh táo suốt buổi lên lớp, giáo viên lâu năm có khác. Đặc biệt, thầy Lâm Huỳnh dạy Toán còn trẻ, chắc chỉ ngang ngửa tuổi tôi – tôi chú ý nhận xét: trên lớp thầy xưng tôi, gọi anh/chị khá trang trọng, khác với hai thầy dạy Hóa, Sinh xưng hô thầy - các em, tạo khoảng cách rõ rệt, đúng là cán bộ lão làng. Về sau, qua bác Ngọc, tôi biết thêm: thầy Huỳnh sinh trưởng ở Huế, vào đại học trước 1975, gia đình thuộc loại tạch-tạch-sè – nói theo những người kỳ thị chính trị là ngụy dân, như họ thường phân biệt ngụy quân, ngụy quyền với giới hoạt động cách mạng, xếp hạng mục như câu vè nhất trụ, nhì tù, tam khu, tứ kết…; lý lịch thầy được vớt vát lại nhờ bốn năm bộ đội biên giới sau khi tốt nghiệp đại học, nghe nói đã leo lên đến thượng sĩ, điểm này làm tôi nể đôi chút khi nhớ cha tôi, sau năm năm tại ngũ, phục viên về chỉ với quân hàm trung sĩ – hồi đó tôi còn nhỏ xíu. Thầy Huỳnh biết làm Tin học - gần với ngành Toán, được giáo sư Hiệu trưởng xem như cánh tay phải, tin cẩn giao phó xử lý các số liệu quan trọng như thi tuyển sinh, học tập hàng năm, tốt nghiệp, dù Thầy chưa phải là đảng viên. Điểm này làm tôi thấy hơi lạ vì người có khả năng, nhiệt huyết thường được cấp ủy Đảng bồi dưỡng, tạo điều kiện kết nạp sớm, cớ sao Thầy lại giữ mãi vai trò quần chúng sau mấy năm đại học, mấy năm bộ đội với thành tích không đến nỗi tồi, nếu không muốn nói là được nhiều người ao ước có được? Sau này tôi biết, tính cách Thầy khá ngang ngạnh, không được lòng nhiều người, có lẽ vì thế mà chậm phát triển mặt chính trị chăng?

Trở lại vai trò Chủ tịch Hội sinh viên (kiêm trợ lý của anh Mưu, Lớp phó học tập), thật vất vả cho tôi khi Lớp đặt chỉ tiêu: đến cuối năm, toàn thể sinh viên sẽ đạt yêu cầu khi thi kết thúc ba môn học, nghĩa là tất cả đều đạt điểm 5 trở lên cả ba môn, trên thang điểm mười. Với hai môn Hóa, Sinh thì có thể yên tâm, đề thi cuối năm thường được chọn trong bộ đề mà anh Mưu đã liên hệ với các anh chị sinh viên Cử tuyển các năm trước xin bài giải rồi photocopy cho mỗi sinh viên trong Lớp một bản, các thầy lão làng phụ trách môn đã tuyên bố: cho sẳn mỗi sinh viên 5 điểm rồi, đạt được mức cao hơn tùy thuộc mức độ phấn đấu của từng người, lo nhất là môn Toán. Sau khi nêu tính logic trong suy luận của môn học, sinh viên nếu tiếp thu được sẽ thuận lợi khi học Chuyên môn ba năm tiếp theo, thầy Huỳnh trả lời thẳng khi anh Mưu ngỏ ý xin bộ đề Toán: Tôi không xây dựng bộ đề, hàng năm chọn ra đề thi theo kiến thức mà sinh viên va vấp khi học, các anh chị nhớ đừng học tủ, phải nắm chắc kiến thức! Nghe nói, dù đã dạy Toán cho cả lớp Cử tuyển và Dự bị Y khoa hơn chục năm, năm học nào Thầy cũng đổi mới bài giảng và bổ sung khối lượng bài tập vì, như Thầy nói, đọc đi đọc lại kỹ, luôn thấy mình thiếu sót. Cách lên lớp của Thầy cũng đặc biệt: với các sinh viên thuộc loại luôn luôn lắng nghe, lâu lâu mới hiểu – xin mượn thương hiệu của Prudential để diễn đạt sự chậm hiểu, Thầy không cầm tay chỉ việc, nhẫn nại nhai đi nhai lại kiến thức như các giáo viên khác, mà ép buộc đầu óc sinh viên làm việc cật lực, bằng cách liên tiếp thay đổi số liệu bài toán của vừa giải xong trên bảng và gọi lên giải, để người khá giỏi cũng như yếu kém, có thể học tập ngay trên bảng, khi được gọi lên. Thủ tục gọi lên bảng giải toán cũng khác thường: không theo thứ tự danh sách, cũng không theo vị trí ngồi trên lớp, mà theo chỉ định điện giật: người vừa tình nguyện lên bảng xong có quyền chỉ định người lên bảng tiếp theo, nếu người được chỉ định làm bài được thì chỉ định tiếp, nếu không thì quay lại người vừa chỉ định. Quy định này buộc mọi sinh viên khá giỏi hay yếu kém đều phải ở tư thế chuẩn bị kiến thức, sẳn sàng bị gọi lên bảng, càng không muốn mang tiếng thất bại, trả về vị trí cũ, thì ê mặt với cả lớp, và cũng tránh việc trả thù vặt người mình không thích bằng cách chỉ định lên bảng. Tuy mọi người ban đầu có hơi vất vả với quy định khác thường này, nhưng hiệu quả lại khá bất ngờ: kẻ yếu kém đã chú tâm học để nắm vững kiến thức, người khá giỏi càng tích cực học tập để nâng cao tư duy lý luận. Gánh nặng của anh Mưu lớp phó, đúng ra là của tôi, trở nên nhẹ hơn: qua lần thi/kiểm tra cuối kỳ một, số bài dưới năm điểm chỉ lác đác đếm được trên đầu ngón tay, dù suốt buổi kiểm tra, chúng tôi không hề phát huy tinh thần làm việc tập thể, ai làm bài nấy, thầy Huỳnh luôn quan sát từng cử chỉ nhỏ nhặt của các đối tượng tình nghi, với cặp mắt sắc bén như mắt của công an, thuế vụ, kiểm lâm…

Học kỳ hai bắt đầu khá căng thẳng: Nhà trường phát động phong trào thi, coi thi, chấm thi nghiêm túc sau khi dư luận xã hội xôn xao về chỉ tiêu gần 100% thí sinh thi đỗ tốt nghiệp phổ thông, gây xôn xao đến Bộ Giáo dục – Đào tạo, các cấp thẩm quyền bắt đầu soi kỹ chất lượng coi thi, chấm thi từ cấp phổ thông đến đại học. Trong lớp chúng tôi, đối tượng băn khoăn lo lắng nhất là các anh chị lớn tuổi – trong đó có chị Lành, dù đợt thi/kiểm tra các điểm Hóa Sinh cả lớp thấp nhất là sáu điểm, riêng môn Toán chị đạt điểm năm què, làm tròn từ điểm chấm khá sát sao 47/100 của thầy Huỳnh – nghĩa là Chị đã suýt đậu phải cành mềm; Chi ủy mở rộng (có thêm tôi) tổ chức họp đột xuất, ra nghị quyết tìm cách tạo điều kiện để cả lớp vượt qua môn Toán. Hôm đó, tôi bận việc xin về trước, sau chị Lành kể lại, Chi ủy mở rộng đã đưa ra nhiều phương án, trong đó có phương án liên quan đến Tổ Học tập mà anh Huy (và tôi) phụ trách: xin thầy Huỳnh tổ chức phụ đạo vào chiều thứ tư, chủ yếu giải bài tập cho các học viên lớn tuổi, có học lực yếu kém…, dù kế hoạch học tập cả năm chỉ còn hai tháng nữa là kết thúc.

Đúng tuần bắt đầu ôn tập để thi – với riêng tôi, là thời gian nghỉ ngơi, chỉ cần có mặt, điểm danh trong các buổi học, thầy Huỳnh đột ngột tuyên bố chia tay với Lớp: Thầy nhận quyết định chuyển đến một đơn vị khác trong Trường, thuần xử lý số liệu, và là cơ sở thực hành Tin của cán bộ - sinh viên thuộc Trường. Thay thế vai trò giảng dạy Toán cho chúng tôi là cô Hòa còn rất trẻ, được điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, dùng lại bài giảng chi tiết do thầy Huỳnh soạn và phổ biến cho Lớp từ hồi đầu năm học. Bác sĩ Ngọc, chủ nhiệm Lớp cho biết, thầy Huỳnh đã nộp hai đề thi Toán và đáp án, chính thức và dự trữ, cho Phòng Đào tạo lựa chọn theo quy định cho kỳ thi/kiểm tra cuối năm, việc chấm thi do cô Hòa và một giáo viên khác đảm nhiệm… Đã quen với công tác nhân sự, chúng tôi thấy việc thay thế cán bộ giảng dạy là bình thường, chỉ cần guồng máy chạy đều là được, trừ một thông tin hành lang khá mơ hồ, không biết có chính xác không - việc chuyển công tác của thầy Huỳnh có ít nhiều liên quan đến lớp Cử tuyển chúng tôi… Tôi nhớ anh Sơn lớp trưởng kể chuyện, hồi mồng ba Tết, đã cùng anh Mưu đem một chai Johnny Walker black label 75ml và con mực đến thăm nhà ba mẹ Thầy, ba thầy trò đã nướng mực và cưa hết chai rượu, chẳng lẽ chi tiết uống rượu ngày Tết với sinh viên lại ảnh hưởng? Chuyện thầy Huỳnh dần dần chìm vào quên lãng, lớp Cử tuyển khi tổng kết cuối năm có mời Thầy đến dự, nhưng đúng ngày đó Thầy bận đi công tác ở Hà Nội.

Dòng thác học tập kéo chúng tôi liên tục, thi/kiểm tra cuối năm ba môn Toán Hóa Sinh, kỳ lạ thay, tôi được điểm 10 môn Toán dù tự chấm còn thấy nhiều va vấp, chị Lành được những 6 điểm, tiếp theo là thời gian tập trung học Chuyên môn ba năm, các môn học cận lâm sàng và lâm sàng, rồi những môn y học xã hội, thủ tục khóa luận tốt nghiệp cuốn chúng tôi đi như một cơn lốc ngoài ý muốn. Kết quả tốt nghiệp sau bốn năm học: tôi đạt loại Khá, chị Lành loại Trung bình nhưng thế là đủ để chính thức nhận quyết định Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Bắc Trà My. Dù tôi có đề đạt nguyện vọng làm chuyên môn thuần túy, chị Lành vẫn vận động kéo tôi về làm Trợ lý cho Chị, tiết lộ ý định sẽ tiếp tục học Cao học mấy năm sau nữa. Từ vai trò bạn học - nói đúng hơn tôi là người dẫn dắt, Chị trở lại làm sếp của tôi, quá khứ mấy năm học vừa qua được xếp sâu trong mấy tầng ký ức.

***

Chiếc Fortuner 7 chỗ rẽ vào thị trấn, dừng trước khu vườn rộng hơn một mẫu tây, ở giữa là căn biệt thự ba tầng của gia đình chị Lành. Chị nói nhỏ với tôi: Chờ chị một chút, rồi vào nhà, mười phút sau quay ra với chiếc túi nhỏ, bộ Le Smoking đen tuyền, biểu tượng quyền lực đầy cá tính đã được thay bằng bằng trang phục công sở trắng xanh nền nã. Chị vẫn giữ giọng uy quyền với lái xe: Dừng cách quán cà phê No 1. Garden hai mươi mét, chúng tôi đi bộ đến! Xe dừng, Chị kéo tay tôi bước đi, giải thích: Học trò gặp thầy, phải ăn mặc chuẩn mực. Chị khoan thai sóng bước cùng tôi đến quán cà phê, phẩy tay chào qua mấy nhân viên đứng thẳng người khi thấy Chị, tiến thẳng đến chiếc bàn nhỏ cuối phòng, mỉm cười: hai học trò Lành, Quỳnh xin chào Thầy, rồi quay sang cô con gái cùng đám bạn học lớp tại chức đang ngơ ngác nhìn: Thầy Huỳnh đã dạy Mẹ cách đây mười hai năm, con về nhà chuẩn bị cơm trưa, nhường cho Mẹ tiếp Thầy sáng nay!

Sáng hôm đó, thắc mắc ngày trước của tôi bắt đầu được giải tỏa, cây kim trong đống rơm đã lộ dần ra. Chị Giám đốc Trung tâm Lành đầy uy quyền đã trở lại dáng dấp nhu mì của cô sinh viên lớp Chuyên tu cử tuyển ngày nào, nói chuyện với thầy giáo với nhiều tiếng thưa, dạ, thỉnh thoảng lại nhấp môi vào ly cà phê trứng capuchino vẫn còn y nguyên. Nghe thủng câu chuyện giữa hai bên, tôi mới hiểu phương án hỗ trợ cho lớp phụ đạo ngày trước.

Dọ biết thầy Huỳnh tận dụng vốn ngoại ngữ, làm thêm ban đêm ở shop hàng tơ lụa với nhiệm vụ bán hàng cho khách Tây, Ban Cán sự đã tìm đến nơi làm việc ngoài giờ của Thầy, biếu gói giấy pelure bọc hai bao thuốc ba số vàng rộm, lấy lý do để Thầy tiếp khách khi Thầy từ chối, bảo không hút thuốc. Về đến nhà, mở gói giấy, thấy giữa hai bao thuốc khoản tiền bằng cả tháng lương giáo viên, Thầy đã niêm phong hết lại, mang đến Ban Giám hiệu Nhà trường để nộp. Vào thời điểm đó, Đảng ủy đang phát động đợt kiểm tra tư cách đảng viên, Ban Cán sự, cũng là Chi ủy, không dám nhận sai sót về mình, chỉ khai có đến thăm, nói chuyện đơn thuần, không tặng quà cáp gì. Nội dung món quà trên mức tình cảm bị xé to ra khắp trường, nhiều người thắc mắc không hiểu trước đây sự thể ra sao mà bên nói có, bên bảo không, Lãnh đạo Nhà trường quyết định trả lại gói quà niêm phong cho Thầy, nguồn gốc xa nhất biết được. Túng thế, thầy Huỳnh quyết định hóa giá luôn hai bao thuốc, gộp với số tiền bên trong, hiến tặng tất cả cho Tổng Hội Sinh viên toàn Trường, để hỗ trợ cho học sinh nghèo; và để tránh tiếng đồn không hay cho các đơn vị liên quan, Thầy chấp nhận chịu lời ong, tiếng ve về phía mình, làm đơn xin thôi nhiệm vụ giảng dạy, chuyển về hẳn Đơn vị Xử lý số liệu cho Nhà trường. Thật ra, nguồn gốc sự kiện khá đơn giản, hầu như những đối tượng liên quan đến Lớp đều đã có quà, nhưng không một ai lên tiếng, chỉ có thầy Huỳnh tự biến thành Don Quichotte để chiến đấu với cối xay gió… Cuối năm học, khi mọi việc đã im ắng, Ban Cán sự định nhân Tổng kết, gặp Thầy để nhận lỗi, giải tỏa các ẩn ức thì Thầy đi Hà Nội dự khóa học nâng cao về Công nghệ Thông tin, mọi việc cứ theo thời gian chìm dần vào quên lãng. Đến bây giờ, qua bao thay đổi, Thầy chuyển sang giảng dạy ở Trường khác, được phân công dạy Toán Xác suất Thống kê cho lớp tại chức Nông học Bắc Trà My, ngẫu nhiên lớp phó đời sống lại là con gái chị Lành, hôm nay Lớp mời Thầy đi uống cà phê, hỏi ra mới biết trước sau, hai mẹ con chị Lành lần lượt thụ giáo với đúng một người.

Tôi nghe rõ giọng chị Lành thiết tha: Em xin thay mặt Lớp, nhận lỗi với Thầy, đúng ra lời xin lỗi phải cách đây hơn chục năm, nhưng công việc bề bộn cứ cuốn em đi, bây giờ nhân gặp được Thầy lên đây, xin Thầy vui lòng tha thứ. Thầy Huỳnh trầm ngâm: Nghiệp giáo viên như kẻ lái đò đưa khách sang sông, hồi đó đưa Lớp các anh chị sang sông gần xong, kể như tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, sao lại băt lỗi khách sang sông vì vài sự cố nhỏ nhặt? Các anh chị đã thành nghề, góp phần phục vụ cho xã hội, điều đó đã đủ cho tôi tự hào. Chị Lành mỉm cười: Cảm ơn Thầy đã rộng lượng thứ lỗi. Nhân đây, em có chút quà thể hiện tấm lòng (chị mở túi vải nhỏ đã chuẩn bị) là lít mật ong rừng thu hoạch ở địa phương, mong Thầy nhận cho tấm lòng của tụi em. Chị rút trong túi chiếc hộp giấy cứng, bề mặt lộng giấy bóng kính, thấy rõ chai thủy tinh bên trong đựng mật ong còn nguyên sáp, thấy rõ dấu chứng nhận quốc tế ISO 22000:2018, đúng loại xuất khẩu Highlandbee.

***

Buổi trưa, chị Lành giữ tôi ở lại ăn cơm, chồng chị đi ăn giỗ ở Trà Cang, con trai út trọ học ở Tiên Phước nên chỉ còn hai mẹ con. Nghe hai chị em tôi nói chuyện, nhắc đến thầy Lâm Huỳnh, con bé Dung xin thuật chuyện. Cháu kể lể khá dài dòng, khác hẳn cách nói cụt lủn mọi ngày, chắc được khơi trúng mạch: Con thấy Thầy chạy xe máy từ Huế vào, chở theo ba lô to đùng, đến Trung tâm Giáo dục chuyên nghiệp, dở ra mới thấy là hơn trăm bản photocopy bài giảng Xác suất Thống kê, Thầy tặng cả cho học viên của Lớp để học, giá photocopy ở đây đắt gấp ba giá ở Huế. Chị Lành mỉm cười: Thế Lớp con định tặng lại Thầy cái gì, rút kinh nghiệm Lớp của Mẹ, đừng quy ra thóc nhé! Bé Dung nhẹ nhàng: Mẹ của Thầy đã lớn tuổi, tụi con định gởi Thầy biếu Cụ củ sâm Ngọc Linh một lạng mới đào được, hy vọng Thầy sẽ nhận. Chị Lành trầm ngâm: Trong thực tế, người ta hay lượng hóa công việc để dễ tính toán, nhưng thật ra, có những thứ thuộc về mặt tinh thần, việc lượng hóa mất hết ý nghĩa.