Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2022

Truyện ngắn 44

 

<script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>


TẤM BẰNG THẠC SĨ MƠ ƯỚC

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Gia đình tôi được Tổ dân phố xếp vào diện dân nghèo thành thị, nên anh em chúng tôi được Ba Mẹ căn dặn từ khi còn rất nhỏ: phải học để vươn lên, thoát cảnh nghèo túng! Trước đây, Ba là hạ sĩ địa phương quân, sau 1975 chỉ phải học cải tạo ba tuần rồi được về nhà, ban đầu hành nghề đạp xích lô, một thời gian sau không đủ tiền thuê ngày và quỵ xe cho chủ nên chuyển nghề sang xe đạp thồ - hay xe đạp ôm như cách gọi ở miền Nam: nói theo ngôn ngữ kinh tế chính trị, tư liệu sản xuất chỉ cần một chiếc xe đạp với ba bộ bi-trục – miền Nam gọi là đạn-cốt – chuẩn của hai bánh và bàn đạp là có thể hành nghề tốt, quan hệ sản xuất thì nhờ các bạn cũ trong Tổ xe thồ giới thiệu với Tổ là có thẻ hành nghề. Ba làm việc vất vả cả ngày chỉ vừa đủ ăn, mối quen thường là mỗi sáng chở hàng của các tiểu thương quen biết ra chợ và cuối ngày chở về, Ba tự lo ăn uống sáng trưa và nhận trách nhiệm với Mẹ - Trưởng Ban tài chính gia đình: hàng tháng chạy đủ hai mươi kí gạo đổ vào kho - tức vỏ thùng đạn đại liên Mỹ, không mấy khi đầy của nhà; mọi chi phí như thức ăn, áo quần, điện nước… của mấy miệng ăn trong nhà đều do một tay Mẹ lo liệu nhờ nghề gia truyền đặc biệt. Mẹ học từ đâu không biết, có lẽ từ bà ngoại, cách làm yaourt – về sau, dân xứ mình học theo mấy nước Tây Âu, gọi là yoghurt-  thật ngon, hợp với khẩu vị nhiều người: từ một hộp sữa đặc, giá chợ khi đó chỉ bảy tám đồng, Mẹ có thể chế biến ra ba mươi lọ yaourt cao cấp, bán hai đồng một lọ cho người có tiền hoặc ra năm mươi túi ni lông nhỏ, bán năm hào một túi cho người ít tiền hơn. Là con gái, tôi học lần hồi cách làm yaourt thay Mẹ, từ những thao tác vặt vãnh như dùng thìa canh đong sữa đã hòa cái vào lọ hay bao ni lông, đậy nắp lọ hay thắt bao và sắp trong soong to, riêng công đoạn cuối thì phải đúng Mẹ thực hiện, sau khi đã tắm gội, rửa chân tay cẩn thận: hòa nước ấm theo công thức ba sôi hai lạnh rồi ủ trong bao tải khi trời râm, hay phơi trên mái tôle khi trời nắng, độ vài tiếng đồng hồ sau, lắc nhẹ thấy đã đông là được. Hàng yaourt của Mẹ rất được tín nhiệm: có lần tôi theo Mẹ đến quầy canteen của Bệnh viện Hương Thủy, vừa đưa yaourt vào quầy thì được chủ canteen thanh toán tiền ngay, trong khi chủ nhiều mặt hàng khác phải đợi mấy hôm nữa, hàng còn tồn nhiều…; hoặc các em nhỏ học ở Nhà trẻ Mầm Non hay Mẫu giáo Hoa Mai đang vui đùa ở sân chơi, hễ thấy bóng Mẹ xuất hiện ở đầu đường Đống Đa với hai phích nhựa trên tay là xúm lại đông đặc như kiến để mua yaourt, các cô bảo mẫu và phụ huynh không ngăn cản vì chính họ cũng nghiện món ăn rẻ tiền, bổ dưỡng đó. Có thể nói, nghề làm yaourt của Mẹ đã nuôi sống được cả nhà mấy năm liền, bao luôn cả việc học của anh em tôi, từ cấp phổ thông đã đối diện với đủ thứ chi phí có thể tưởng trượng ra để bổ trên đầu học sinh: tiền xây dựng trường, tiền quỹ lớp, tiền quỹ phụ huynh, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, kỹ năng sống, tiền nước uống, tiền vệ sinh, tiền quỹ đoàn đội, tiền kế hoạch nhỏ, tiền Chữ thập Đỏ…, chưa kể đến tiền học thêm môn Toán, môn Văn mà học sinh lớp 9, cuối cấp 2 như tôi bắt đầu phải làm quen. Riêng anh Hai tôi, vừa học hết kỳ một lớp 10 trường bán công Nguyễn Trường Tộ, đã tự động bỏ học chữ để chuyển sang học nghề thợ may ở Trường Trung học công nghiệp, khi gia đình biết chuyện thì anh đã học nghề được hơn nửa khóa học rồi. Ba Mẹ trách thì anh giải thích: con học chữ không vào được, mà Ba Mẹ cố nuôi con đến hết hết lớp 12 cũng chưa chắc có việc làm để đỡ đần cha mẹ. Hỏi ra mới biết, anh dự định chuyển sang học nghề từ năm lớp 9, không dám xin tiền Ba Mẹ để đóng tiền học nên từ khi đó đã tập nhịn ăn sáng để dành tiền – anh nhịn một ổ bánh mì xíu ăn sáng chỉ có được năm hào, nhưng lâu ngày thì tích tiểu thành đại, cộng thêm cả tiền mừng tuổi mấy năm dồn lại mới đủ cho học phí khóa học mấy tuần. Bây giờ anh Hai đã ra nghề, làm việc trong công ty May HBI ở Khu công nghiệp Phú Bài, năm ngoái thi đậu lên bậc ba, lương hàng tháng anh đem về, đưa hết cho Mẹ, chỉ giữ lại một ít để tiêu vặt. Khoản thưởng cuối năm đầu tiên của Công ty, anh góp với Ba tậu được chiếc Dream Tàu đời đầu, Ba hành nghề đỡ vất vả hơn trước, thu nhập lại khá hơn. Thỉnh thoảng anh lại giúi cho tôi ít tiền để Quỳnh sắm cái gương, cái lược, khỏi dùng chung với Mẹ! Tuy khác giới nhưng cùng lứa tuổi, anh thích tâm sự với tôi hơn với Ba, theo quy luật khác dấu hút nhau như trong Vật lý: anh biết Ba kỳ vọng con cái vươn lên bằng việc học, nhưng đầu óc anh tăm tối quá, thôi Quỳnh thay anh, đừng phụ lòng Ba Mẹ, cố học cho giỏi, mọi việc có anh lo. Không biết anh nói với Mẹ những gì, mà sau khi tôi học xong cấp hai ở Thủy Phương, thi đậu vào lớp mười trường cấp ba Hương Thủy, Mẹ chủ động nhận làm hết công việc cơm nước, giặt giũ trong nhà, để Quỳnh tập trung học cho tốt, cấp ba rất nhiều môn khó, chỉ giao cho tôi việc nấu cơm tối khi hoàn tất việc học trong ngày. Ngoài ra, tôi biết anh Hai chơi thân với chị Hương hàng xóm con chú Đông từ nhỏ đến giờ, hiện nay chị cũng làm việc ở HBI như anh; nhưng sau này tôi ít thấy anh hát ông ổng bài Cô láng giềng của Hoàng Quý bằng cái giọng vịt đực như trước, mà suốt ngày chỉ tranh thủ ngủ bù lấy sức, thức dậy thì đăm chiêu lên lịch làm việc tăng ca, lại thường báo bận lắm khi chị Hương rủ đi dạo. Xem ra, anh hầu như ông cụ non, quên hết việc vui chơi của tuổi thanh niên, chỉ dành toàn tâm toàn lực cho công việc, không kể ngày đêm, nhận làm tăng ca bất kể nhiều hôm mưa gió. Anh dành dụm tiền làm ngoài giờ, tiền thưởng năng suất mua cho tôi chiếc máy tính bỏ túi fx-500ES, được xem như loại hiện đại nhất thời đó. Nhờ có nó, được thầy Hữu bạc, giáo viên chủ nhiệm lớp tận tình hướng dẫn, tôi đã thành thạo các thao dượt tính toán từ đơn giản đến phức tạp và đến cuối học kỳ một lớp 12, tôi vinh dự đoạt giải nhất kỳ thi giải Toán bằng máy tính bỏ túi trong toàn Tỉnh, vượt qua nhiều thí sinh khác, đa số thuộc gia đình khá giả, được trang bị đủ thứ trang thiết bị hiện đại. Trong buổi phát thưởng tại Hội trường Văn phòng Sở Giáo dục, tôi phát biểu cảm ơn sự giảng dạy chu đáo của Nhà trường và thầy Hữu đang có mặt, cố kìm mấy giọt nước mắt để nhắc đến sự động viên học tập của gia đình, của Ba Mẹ và đặc biệt của anh Hai, đã hy sinh rất nhiều để tạo điều kiện cho tôi học tập, đạt được kết quả hôm nay. Trong lúc đang được mọi người trầm trồ khen tặng, tôi ngậm ngùi nghĩ đến Ba vẫn đang miệt mài chạy xe dưới ánh nắng chói chang, Mẹ vẫn kiên nhẫn đong đếm từng thìa sữa cho vào bao ni lông, anh Hai vẫn cần mẫn theo guồng quay của giàn máy may công nghiệp... Khi nói chuyện với tôi khá lâu sau buổi trao thưởng, thầy Hữu chủ nhiệm – vừa được đề bạt lên Phó hiệu trưởng, lưu ý học sinh Trường cấp ba chúng tôi từ lâu không có ai thi đậu vào đại học sư phạm Toán, Thầy mong muốn tôi tạo một tiền lệ cho mọi người noi theo. Về học lực, Thầy đánh giá tôi có năng khiếu về các môn cơ bản, đặc biệt là môn Toán, nên tôi có ít nhiều hy vọng đậu đại học, dù ngành sư phạm sẽ có nhiều người thi vào hơn các ngành khác vì sinh viên sư phạm được hưởng chế độ hỗ trợ đóng học phí và chi phí sinh hoạt, nói nôm na là miễn học phí… Tôi hứa với Thầy, và tự hứa với lòng mình, sẽ tích cực học tập nhiều hơn nữa, trước mắt tự xác định phải thi đậu vào đại học sư phạm ngành Toán như kỳ vọng của gia đình và cả thầy Hữu. Cầm món tiền thưởng ra thẳng chợ Đông Ba, tôi tìm mua chiếc găng tay giả da lót nỉ bên trong, thử vừa tay tôi chắc là vừa tay chị Hương, một phong kẹo chocolat nữa, tôi sẽ đưa anh Hai làm quà tặng chị nhân ngày Valentine sắp tới, chắc chị sẽ vui lắm…

Tôi hoàn tất hồ sơ thi tuyển vào khoa Toán Trường đại học sư phạm Huế, rồi tiếp tục dùi mài kinh sử, không theo cách hoang phí thời gian, tiền bạc, tâm trí như nhiều bạn khác vào việc tham gia các lớp luyện thi cấp tốc và dài hơi, được mở khắp thành phố và cả vùng ngoại ô… Dưới sự kèm cặp của thầy Hữu – dù khá bận rộn với cương vị mới là Phó hiệu trưởng chuyên môn, Thầy vẫn giành ba buổi một tuần, duy trì lớp học miễn phí một thầy một trò, giúp tôi ôn tập thấu đáo, cặn kẽ các kiến thức cơ sở Toán từ lớp 10, ngoài ra vẫn nhiệt tình với các học sinh khác: với cương vị Tổ trưởng tổ Toán, hàng ngày thầy mất khá nhiều thời gian dùng chiếc máy vi tính cá nhân để download những đề thi, câu hỏi trắc nghiệm có trên mạng từ các cơ sở giáo dục trong và ngoài Tỉnh, tổng hợp lại, rồi chép vào USB, đem vào Trường nhờ máy in của tổ Toán, in ra để phổ biến cho chín lớp 12 của toàn Trường.

Đến đầu tháng sáu, như thông lệ hàng năm, học sinh cuối cấp phổ thông trung học rộn rịp tham gia cuộc tổng diễn tập – gọi thế vì Sở đã đặt chỉ tiêu tối thiểu 90% học sinh dự thi tốt nghiệp phổ thông phải đậu, còn việc thi tuyển vào đại học hay cao đẳng, trong hoặc ngoài Tỉnh còn tùy thuộc khả năng từng người. Mỗi buổi thi, Ba đều chở tôi đến điểm thi – vẫn là trường Hương Thủy quen thuộc, lâu nay hàng ngày vẫn từ nhà đi bộ đến hơn cây số đến học, nhưng dịp này Ba bảo chở xe máy cho khỏe chân. Ngày đầu tiên thi Toán, Ba chiêu đãi cô con gái rượu một tô bún cho tỉnh táo, làm bài tốt, tôi xúc động nhớ giá tiền dĩa cơm bình dân - suất ăn trưa của Ba – chỉ bằng một nửa; mấy buổi sau tôi đề nghị mua nắm xôi, ít tiền hơn, hai cha con cùng ăn, mà Ba chỉ ăn hết một phần ba, còn lại nhường tôi hết...

Tôi – nói đúng hơn là cả nhà, tính cả thầy Hữu, mà tôi xem như cha đỡ đầu – phấn khởi nhận kết quả thi tốt nghiệp phổ thông loại Giỏi, càng mừng hơn khi biết sẽ được cộng thêm điểm vào kết quả thi đại học. Chỉ còn mấy tuần nữa là đến ngày thi, cả ngày lẫn đêm tôi lao vào học tập cả ba môn Toán Lý Hóa, quên cả ăn ngủ, nhiều hôm Mẹ phải nhắc mới nhớ. Tới gần ngày thi, tôi ngỡ ngàng nghe anh Hai báo sẽ cùng chị Hương thu xếp tránh ca trực trùng nhau, chia phiên chở tôi đến điểm thi, ngay cơ sở Đại học Sư phạm ở đường Lê Lợi bằng chiếc xe Babetta của chị – anh chị đã nối lại bang giao qua món quà Valentine tôi đã chuẩn bị cho anh, để Ba rảnh rang, tập trung lo nhiệm vụ – nói văn hoa là công việc đường lối - hàng ngày. Rút kinh nghiệm kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, từ tối hôm trước Mẹ đã ngâm đậu xanh với mấy loong nếp, rồi hôm sau dậy sớm nấu nồi xôi đậu – ăn xôi đậu đi thi là hên lắm, Mẹ nói – để tôi dùng điểm tâm với cả nhà trước khi lên đường ứng thí. Tôi nghĩ, thành quả tôi đạt được chắc không phải nhờ xôi đậu xanh, mà chính là từ tấm lòng thơm thảo của Ba, Mẹ, thầy Hữu, anh Hai và chị Hương (bây giờ, khi viết bài này, tôi đã phải gọi chị là chị Hai rồi) đã động viên tôi nỗ lực vận dụng hết chất xám khi thi. Một kỷ niệm khó quên: có một câu trong đề Toán, yêu cầu tính diện tích hình phẳng giới hạn bởi hai đường cong, làm xong nộp bài rồi, về đến nhà tôi còn băn khoăn mãi, không biết mình làm đúng hay sai, vì nhiều thầy giáo Toán bảo tôi sai, nhưng thầy Hữu đọc kỹ bài giải của tôi lại bảo đúng. Đến khi công bố đáp án chính thức, tôi mới biết chắc chắn mình làm đúng câu đó. Kết quả thi tuyển của tôi được công bố sau ba tuần hồi hộp, thật tuyệt vời, trên cả mong đợi: tổng điểm thi cả ba môn của thí sinh Trần thị Quỳnh là 23.5 điểm, trong khi điểm chuẩn vào đại học sư phạm Toán là 20 điểm…

Điều thú vị nhất, sau này khi làm luận văn Cao học với thầy Liêm, nghe Thầy kể lại, tôi mới giải tỏa được mối băn khoăn khi thi: trong đề Toán ra năm đó, câu về tính diện tích hình phẳng không chuẩn xác hoàn toàn, ban đầu người ra đề nhẩm tính hai đường cong chỉ cắt nhau tại hai giao điểm với hoành độ x=1 và x=2, nhưng thật ra còn một giao điểm thứ ba khó nhận ra với hoành độ x=27 – giải bằng chương trình tính toán Maple mới thấy, nên sau khi chính thầy Liêm phát hiện ra sai sót đó, đáp án phải sửa lại cho hoàn chỉnh. Tổ chấm Toán gặp mấy trăm bài thi tuyển đều làm sai câu đó, chỉ duy nhất bài có số phách 392 làm đúng, nên đề xuất và được Hội đồng thi tuyển thống nhất, thưởng 0.5 điểm cho số phách 392. Sau khi gọi thí sinh trúng tuyển nhập học, thầy Liêm bỏ công tra cứu từ điển số phách, mới biết số phách Toán 392 là của thí sinh Trần thị Quỳnh, trường phổ thông trung học Hương Thủy, đã giải đúng câu mà thầy tâm đắc đó và được thưởng 0.5 điểm, nên chú ý theo dõi tôi từ khi nhập học cho đến năm cuối, Thầy nhận hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp cho tôi theo chuyên ngành Giáo học pháp. Kết thúc bốn năm học, tôi tốt nghiệp đại học sư phạm Toán hạng Khá – thỏa kỳ vọng của thầy Hữu rồi, thầy Liêm động viên tôi thi chuyển tiếp Cao học Toán, Thầy sẳn sàng làm người hướng dẫn nếu tôi thi đậu. Hỏi ý kiến thầy Hữu, tôi được sự đồng tình ủng hộ việc học tiếp, Thầy cũng nói rõ ý định: trường Hương Thủy sẳn sàng tiếp nhận nếu tôi muốn về trường sau khi tốt nghiệp Cao học, Thầy sẽ làm việc với Sở Giáo dục Tỉnh xin thêm biên chế, khi số giáo viên Toán của Trường còn khá mỏng so với lượng học sinh ngày càng tăng, Thầy cùng vài giáo viên khác cũng gần đến tuổi nghỉ hưu …

Việc học như được tạo đà nên thăng tiến nhanh chóng, trong kỳ thi tuyển Cao học, tôi vượt qua các môn Giải tích, Đại số khá suôn sẻ, nội dung thi không khác xa lắm so với những môn học mà tôi vừa kết thúc năm cuối vừa qua, riêng môn Ngoại Ngữ, tôi chọn thi tiếng Anh nên hơi vất vả với phần Nghe hiểu, cũng may cuối cùng cũng ổn, tôi nhận kết quả 5 điểm Ngoại ngữ mà mừng hơn nhận bằng tốt nghiệp đại học. Qua kinh nghiệm suýt sẩy chân này, tôi tự hứa phải trau dồi tiếng Anh cẩn thận hơn, vì chuyên môn Toán nếu học lên cao rất cần ngoại ngữ, chứ không chỉ tham khảo sách trong nước là đủ. Đến phần bảo vệ đề cương nghiên cứu, theo gợi ý của thầy Liêm, tôi chọn đề tài Vận dụng toán học để giải quyết một số bài toán thực tế, được nhiều thầy giáo trong tổ Giáo học pháp của khoa Toán, trường Đại học Sư phạm Huế quan tâm, trước khi thống nhất thông qua trong Hội đồng đáng giá các đề cương tiểu luận.

Trong mấy năm theo đuổi chương trình Cao học, tôi đã mất khá nhiều thời gian cho các môn chung như Ngoại ngữ, Triết học, chiếm đến một phần tư tổng số đơn vị học trình, rồi đến những môn hỗ trợ phụ thuộc như Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Phương pháp giảng dạy trong đại học, mà do không có giáo viên giảng dạy trong thời điểm dự kiến, Trường phải thỉnh giảng cả những chuyên gia từ Hà Nội vào. Đúng như nhận xét của một số thầy - kể cả thầy Liêm đang đứng tên hướng dẫn chính cho tôi, nhiều môn học có tên gọi rất kêu được đưa ra để tổng số đơn vị học trình đạt ngưỡng 80, nhưng tác dụng đến đề tài nghiên cứu được bao nhiêu thì chỉ có Trời mới biết, phải chờ đến tương lai mới thẩm định được. Tôi chấp nhận học hết các môn, nhồi nhét hết kiến thức quy định vào bộ nhớ để đến khi cần mới tìm hiểu, như con bò cần mẫn nhồi nhét hết thức ăn vào đầy bốn túi của dạ dày, đến khi cơ thể thấy đói mới… ợ ra nhai lại!

Tôi xác định kiến thức có được từ tấm bằng thạc sĩ chưa giúp ích được gì trong thực tế cuộc sống, sau sự kiện chú Báu, bạn Ba tôi đến nhà chơi, nhân biết tôi vừa bảo vệ thạc sĩ ngành Toán xong nên nhờ nghiên cứu cách chia bình mật ong rừng khá lớn gần chục lít, không ghi dung lượng, mới được gia đình con gái ở Gia Lai nhờ bạn có cha mẹ ở gần nhà Chú, chạy xe tải gởi về, biếu chung hai nhà nội ngoại. Chú muốn phân chia thật công bằng, tránh tư tưởng nhất bên trọng, nhất bên khinh giữa hai nhà nội ngoại các cháu, dễ gây hiểu nhầm về sau. Thấy tôi ngẩn ngơ suy nghĩ, Ba tôi bàn góp: … thì cứ chịu khó đổ ra, đong từng chén nhỏ như Mẹ đong yaourt vậy, bên nào thiệt thì cũng thông cảm, lọt sàng xuống nia ma, mất đi đâu mà ngại. Tôi cương quyết không chấp nhận, đang nghĩ đến chuyện phân tích bình mật thành ba phần, phần cổ và thân đều là hình trụ tròn xoay, ở giữa là hình nón cụt, đều có công thức tính thể tích cả, chỉ hơi khó là phải dùng thước ô ly mới đo được chính xác kích thước từng phần, đang suy nghĩ thì Mẹ về đến nhà sau chuyến viễn du đến nhà trẻ, mẫu giáo, hơi buồn vì không bán hết hàng khi trời trở, không khí se se lạnh, khách hàng không hào hứng ăn yaourt lắm. Có bệnh thì vái tứ phương, chú Báu quay sang hỏi Mẹ, và sững sờ khi nghe câu trả lời: Dễ ợt, để tôi chia cho, chỉ năm phút thôi! Cả tôi cũng mở to mắt nhìn Mẹ thao tác: Mẹ lấy một bình nhựa năm lít rỗng loại nước Aquafina tinh khiết, đổ một ít mật ong sang, thì lượng mật còn lại trong bình đạt độ cao a1, rồi Mẹ lật ngược bình lại thì lượng mật đạt độ cao b1. Mẹ tiếp tục làm đến lần thứ 6, thì hai độ cao a6 và b6 đã trùng nhau, nghiễm nhiên đã chia đúng nửa bình sau n=6 lần rót. Cả nhà vỗ tay reo hò tán thưởng, Mẹ mỉm cười: Có gì đâu, ngày trước tôi học của bà ngoại các cháu cách chia đều chai nước mắm hay chai dầu hỏa, đều thực hiện như thế! Chú Báu phấn khởi đòi mua lại toàn bộ phần yaourt bán ế hôm đó để khao cả nhà, riêng tôi thẫn thờ nghĩ lại, vốn liếng kiến thức học bao nhiêu năm vẫn còn hụt hẫng so với thực tế.

Buổi chiều hôm đó, tôi tâm sự với thầy Hữu: Tấm bằng thạc sĩ mà con mơ ước bây lâu chỉ là mốc đánh dấu bước đi đầu tiên của con trên con đường khoa học. Con thấy mình còn phải học rất nhiều từ Ba Mẹ, từ Thầy, từ vô vàn người chung quanh, những kiến thức dân gian mà hiểu biết của con chỉ là hạt cát trong sa mạc…

 


Thứ Hai, 1 tháng 8, 2022

Truyện ngắn 43

 

  <script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>

NHIỆM VỤ TRÊN QUÊ HƯƠNG

Truyên ngắn của Quỳnh Anh (thân tặng cháu Ái Việt)

Sau hơn hai mươi năm sống trên đất người xứ lạ, tuy là con gái, tôi lại nhận nhiệm vụ thay mặt Ba về quê nội. Ba Mẹ sinh được hai con, anh trai đã mất vì bệnh hồi nhỏ, còn lại mỗi tôi, nên phải đảm nhiệm công việc của trưởng nam. Những năm 90 của thế kỷ trước, khi Ba kết thúc thời gian cải tạo ở Tháp Bà, Hoàng Liên sơn, dành cho đại tá quân đội Saigon, gia đình ba người chúng tôi làm thủ tục xuất cảnh theo diện HO của chương trình ODP sang Hoa kỳ; lúc đó, nhiều người nghĩ mà không nói nước Mỹ giàu, ở đó giơ tay cũng hái ra tiền, đoán sớm muộn Ba tôi sẽ về thăm quê, không xênh xang áo mão như quan lớn, cũng lên xe, xuống ngựa như đại gia triệu phú.

Sự thật trái ngược hẳn, ở đất Mỹ, ai cũng phải làm việc vất vả mới có thu nhập: sau mấy tháng trôi nổi, gia đình chúng tôi chuyển đến quận Cam, bang California; Ba không muốn sống dựa vào nguồn trợ cấp thất nghiệp, lòng thương hại của bạn bè, của cả thuộc cấp trước đây, may mắn xin được công việc lái xe đường dài cho một hãng vận tải nên nhận ngay; Mẹ nhờ khéo tay, biết trang điểm nên học nghề nail, tranh công việc của những người trước đây chuyên làm đẹp cho bà phu nhân đại tá, công việc nghe có vẻ hạ tiện nhưng thu nhập hàng tháng có khi hơn hẳn lương lái xe của Ba, đủ để lo ăn ở, chi phí đi lại, không phải đi xa nhà nên có thể trông nom tôi, cô con gái rượu đang tuổi lớn, thường được ví như bom nổ chậm; riêng tôi, để có tiền tiêu vặt khỏi xin Ba Mẹ, đã tập làm thêm ngoài giờ học ở trường, như hái táo thuê, rửa bát đĩa ở nhà hàng. Khi tôi định học thêm Vovinam từ chú Hoàng Phi bạn Ba, đang chần chừ khi biết học phí hàng tháng không nhỏ, Ba Mẹ đã ủng hộ con gái cũng cần biết võ để phòng thân, để Ba Mẹ lo học phí cho, tôi hiểu nguyên nhân sâu xa: võ đường Hoàng Phi được xem như một cộng đồng Việt Nam thu nhỏ, đa số đều là người Việt, trừ vài võ sinh bản xứ. Sau ba năm miệt mài trên thảm tập, tôi thi lên cấp, được mang thắt lưng đỏ, chú Phi đề nghị với tôi, khóa tới đứng lớp huấn luyện cho võ sinh mới nhập môn, cũng là lúc tôi bảo vệ xong hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cao đẳng về Tổ chức sự kiện.

Cuộc sống gia đình bắt đầu tạm ổn định, Ba viết thư về quê xin làm thủ tục đón ông bà nội sang sum họp gia đình, thư của ông trả lời ráo hoảnh: mày có nhớ ông bà cha mẹ thì về thăm, chứ tao đi theo mày thì mồ mả tổ tiên, nhà thờ dòng họ giao khoán cho ai? Biết tính ông nội rất dứt khoát, Ba định thu xếp cho cả nhà về quê thì sự cố ập đến: trong một chuyến lái xe đường dài để giao hàng đến LosAngeles, Ba bị đột quỵ vì tai biến, chú Huy cùng lái (xe đi đường xa luôn có hai lái xe) nhanh chóng đưa Ba đến Las Encinas Hospital, hoàn tất giao hàng rồi lại đưa Ba về Irvine, California, từ đó cuộc sống của Ba gắn liền với giường bệnh và chiếc xe lăn, có Mẹ luôn bên cạnh để hỗ trợ những sinh hoạt cần thiết.

Trước khi tôi sang LosAngeles để đáp chuyến bay thẳng về Đà Nẵng, Ba dùng laptop luôn đặt cạnh giường bệnh, soạn thảo một kế hoạch chi tiết, in ra mấy trang A4, cho vào phong bì, niêm phong cẩn thận rồi giao cho tôi, dặn dò kỹ lưỡng: trong ba tuần về nước theo visa, con có thể tạm trú ở nhà bác Cả, Ba đã gởi mail xin phép rồi; ngoài những việc riêng, con xin ông nội cho phép thay mặt Ba thắp hương bàn thờ Họ, thăm mộ tổ tiên, nhớ cư xử đàng hoàng với bà con trong Họ. Ở quê, sẽ có người điện thoại tìm con, nói đúng mật khẩu là câu của Victor Hugo: Peace is the virtue of civilization. War is its crime (Hòa bình là đức hạnh của nhân loại. Chiến tranh là tội ác), đưa cho con nửa tờ một đô la, ráp lại khớp với nửa tờ Ba đưa đây, khi đó con bóc phong bì, thực hiện lời Ba dặn trong thư. Quả Ba tôi là tín đồ của Khổng Minh, dù đau liệt giường, bị hạn chế khả năng vận động nhưng thần trí vẫn sáng suốt, minh mẫn, suy tính công việc vẫn cặn kẽ, chu đáo như thời còn là Đại tá Trưởng phòng Quân báo của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Saigon ngày trước, lên kế hoạch chi tiết mà vẫn giữ nguyên tắc bí mật.

Tranh thủ 60 phút quá cảnh ở Singapore của chuyến bay LosAngeles - Đà Nẵng, tôi đến quầy hàng lưu niệm của sân bay Changi, tìm mua vài lốc dầu Eagle Brand làm quà, Mẹ nói thứ này ở quê nhà rất chuộng, vừa thoa cho nóng người vừa uống chống đau bụng, giá ở Sing một lọ 24ml chỉ gần một đô la Mỹ. Các anh bán hàng, tôi nghe rõ ràng vừa mới mày tao chi tớ với nhau, thấy tôi xuất hiện, tóc đen da vàng, chắc nghĩ tôi là người Nhật, mở miệng líu lo ohayou gozaimasu, tôi xổ luôn tiếng Việt, lâu nay Ba Mẹ quy định trong nhà chỉ được nói tiếng mẹ đẻ: bán cho choa ba lốc dầu Con Ó, nhìn các anh há hốc mồm, tôi cười thầm trong bụng, lẳng lặng rút master card trả tiền. Một con gió bỗng ập đến, thổi tung chiếc mũ casquette trên đầu tôi bay lên cao, theo phản xạ tôi tung người lên với lấy được ngay, rồi hạ người xuống vừa kịp đỡ túi hàng đưa tới trước mặt. Tôi thản nhiên bỏ ngoài tai tiếng xuýt xoa khen ngợi, rút khăn tay thấm mồ hôi, cài lại quai mũ rồi trở về chố ngồi của mình trên chiếc Boeing 747 ở cuối phi trường.

Sáu tiếng đồng hồ sau, tôi làm thủ tục ở sân bay Đà Nẵng, mua chiếc sim rác lắp thêm vào máy, nhận hàng lý, chiếc túi xách tay nhỏ gọn có bánh xe nhẹ tênh, đồ đạc bên trong cũng ít; lưng đeo ba lô, tôi đeo túi qua vai, bước đi dễ dàng. Từ kinh nghiệm học từ anh bạn đồng hương về quê tháng trước, tôi lắc đầu từ chối cánh taxi mời chào, kiểm lại mớ tiền Việt mới đổi, tìm chiếc xe buýt tuyến R14, đưa tờ 5 ngàn đồng, giả giọng Quảng nói vỏn vẹn mấy từ Côông dziên hai chính thoéng boa như dân bản địa, tôi biết tuyến xe buýt Đà Nẵng – Huế có trạm dừng ở Công viên 29/3, lên xe đó trả 70 ngàn, 4 tiếng sau là đến Bến xe phía Nam của Huế; tôi tính sẽ xuống ở ngã ba đường Tránh, trả mấy chục ngàn đồng xe ôm - nước Mỹ lạc hậu, chưa thấy phương tiện này – là mấy chục phút sau, có thể gặp ông bà nội đã cách biệt gần ba mươi năm.

Tôi tính kỹ như thế mà cũng thua Trời tính. Ngồi trên xe buýt, điện thoại réo vang, nghe giọng anh Sơn con bác Cả (bằng tuổi anh Trung đã mất, hơn tôi một tuổi - tôi đã quen giọng qua Viber) gấp gáp: Quỳnh xuống máy bay chưa, xe anh thuê đón em nãy giờ bị kẹt ở hầm Hải Vân, đến hơi chậm! đến khi biết tôi đã theo tuyến R14 để đón xe buýt ra Huế, giọng anh cuống quýt hẳn: Quỳnh cứ đến Công viên 29/3, uống café chờ anh, xe 16 chỗ màu trắng số 75-00032 nhé! Anh cúp máy ngay, chắc sợ gọi số phủ sóng quốc tế tốn tiền, anh đâu biết xuống sân bay, tôi đã mua ngay sim nội địa cài thêm vào máy để dùng trong mấy tuần ở quê. Đến công viên 29/3, tôi xuống xe buýt, mang túi xách và chiếc ba lô đến chiếc ghế nhựa của xe nước mía ven đường, lâu lắm mới được thưởng thức vị nước mía miền Trung, thầm nghĩ ngoài anh Sơn, không biết ai đi đón tôi nữa mà thuê cả xe 16 chỗ, trang trọng thật!

Trời mùa hè nắng gắt, ly nước mía nhỏ xíu chưa đã cơn khát khô cổ, tôi gọi thêm ly thứ hai, vừa uống hết thì thấy chiếc Ford transit trắng đảo một vòng quanh công viên, lượn qua mấy quán cà phê máy lạnh bên kia đường rồi xịch đến bên xe nước mía khi thấy tôi vẫy, một người mở cửa, bước xuống với bộ complet, cravate nghiêm chỉnh – tôi hơi thấy xa lạ với bộ pull-jean của mình, đúng anh Sơn rồi, anh nói huyên thiên: sao Quỳnh không báo để anh đi đón, anh hỏi chú qua Viber mới biết chuyến bay, tính đi đường mất hai tiếng, không ngờ kẹt xe ở hầm Hải Vân cả tiếng nên trễ, mà sao Quỳnh không ngồi trong quán café có điều hòa cho mát mà ngồi ven đường, bụi chết! Bước lên xe, tôi tròn mắt thấy có mỗi lái xe, anh phẩy tay khi tôi hỏi có ai cùng đi: có ai đâu, thuê xe rộng ngồi cho tiện, còn hành lý nữa mà, Quỳnh đã lấy chưa? Anh thoáng thở dài khi thấy tôi chỉ có cái ba lô và túi xách nhỏ, rồi hối thúc khi tôi chờ lấy tiền thừa sau khi đưa chị bán nước mía tờ 20k: thôi bỏ đi, có mấy đồng bọ, đáng gì, tôi vẫn kiên nhẫn chờ lấy lại sáu ngàn đồng rồi lẳng lặng lên xe, nói nhỏ: xin lỗi anh, em xin phép chợp mắt một chút, chuyến bay hơi dài lại phải trái múi giờ, và lắc đầu xua tay khi anh đề nghị thuê phòng nghỉ vài giờ cho đỡ mệt rồi đi ra Huế, tôi đã quen ngủ ngồi nhiều lần khi gọi auto-stop. Tuy nhắm mắt, ngả lưng nhưng tôi vẫn biết xe dừng mấy lần để bắt khách, nghe rõ ràng tiếng anh Sơn trăm ngàn ra đến đường Tránh, thích thì lên, có cả tiếng cười: ét xe ăn mặc sang quá, nhưng vẫn tảng lờ, không nghe ai nói gì thêm, mấy khi được đi xe đường dài máy lạnh giá hời.

Xe về đến Vinh Hà khi trời đã xế chiều, tôi vòng tay chào ông bà nội, gia đình bác Cả, mình là phận em út mà! Sau bữa cơm tối với món canh cua đồng nấu mồng tơi và rau muống xóc tỏi rất ngon miệng, tôi đưa mấy hộp trà nhài Delite 30 gói nhập từ Trung quốc – đúng goût của ông nội, theo Ba nói – và mấy củ sâm Triều tiên cho Bà nội. Gia đình bác Cả nhận quà mỗi người một hộp dầu Eagle Brand của Singapore và một gói kẹo Hershey’s nuggets của Mỹ, túi xách của tôi có thể tích khiêm tốn, chỉ chứa được chừng đó. Các anh chị con út bác Cả (hai Bác sản xuất hơn một tiểu đội, lứa út ít vai anh chị của tôi mới hơn mười tuổi) hí hoáy lột hết vỏ ra xem có nhét tờ đô nào không, tôi lẳng lặng xin chiếc đĩa, đặt tờ 100 USD lên, thưa với ông nội: sắp đến là giỗ ông Cố, Ba Mẹ con có ít lòng thành xin gởi về để góp phần cúng Cố. Có lẽ bộ mặt tươi cười ông tổng thống Benjamin Franklin làm bác Cả tươi lên một chút, bác bảo anh Sơn lo đưa tôi đi, khi tôi xin ngày mai sang thắp hương nhà thờ, thăm mộ tổ tiên. Rồi không biết nghĩ sao, bác chấp thuận ngay khi tôi xin phép ngày mốt lên thăm bạn ở Huế, ở lại đó một hai tuần (nghĩa là gần hết ba tuần theo visa), chỉ nhắc ngày hai mươi bảy âm là chạp họ, nhớ về thắp hương, vậy tôi có thể dành trọn thời gian thực hiện nhiệm vụ Ba đã ghi trong cẩm nang, chưa biết việc gì.

Sáng hôm sau, mấy anh chị con bác Cả và tôi đến nhà thờ, dâng hương và quỳ lạy tổ tiên. Tôi đã quen với thế tấn Kim kê độc lập và tập luyện từ trước, khi lạy vẫn chụm hai gót chân dễ dàng như các nhà sư, trong khi anh Sơn bắt chước, cố giữ không bước tới lui, mất thăng bằng tí nữa ngã lăn ra, làm các em cười ồ. Rồi đường đi đến khu vực nghĩa trang dòng họ, phải vượt que một khe nước rộng hơn hai mét, trong khi nhiều người xắn quần lội qua, tôi dùng thế Phượng hoàng triển dực vượt qua khá nhẹ nhàng. Ít nhất mọi người cũng thấy, tôi không thuộc loại tiểu thư hay mất gốc như họ tưởng.

Tôi lên Huế, tìm đến nhà Thư, cháu của chú Huỳnh Phi, sống ở đó thật thoải mái vì tính tình rất hợp, năm trước Thư qua thăm chú, đi phượt với tôi mấy ngày, thân thiết như chị em ruột. Chồng Thư đang đi công tác, Thư chưa có con, chúng tôi đùa nghịch ở nhà như trẻ mới lớn. Thư dẫn tôi đi thăm lại các quán bún mụ Rớt, bánh bèo mụ Đỏ, bánh cuốn Huyền Anh, cơm hến bên Cồn (theo chế độ american pay, tôi thích Thu ở tính sòng phẳng), những khẩu vị hơn 20 năm nay mới gặp lại; phố Tàu ở quận Cam có chất lượng thua xa, thiếu hương vị đậm đà như ở ngay xứ Huế. Tôi liên lạc với nhiều bạn cũ, có đứa sắp có dâu, rể rồi, gẫm lại thân mình chưa một mảnh tình vắt vai cũng ngậm ngùi. Có lần Thư hỏi: đến khi nào Quỳnh mới lắp một chiếc rờ-moóc vào cuộc sống của mình? Tôi cười: chưa biết, con trai bây giờ thực dụng quá, không hợp với mình, sống độc thân càng khỏe, khỏi phải hò hẹn mất thời gian.

Nói trước, bước không qua, đến một ngày tôi cũng được lời hẹn: số điện thoại gốc của tôi nhận tin nhắn từ một số lạ hoắc, có đầu số +1(510), nội dung đúng mật khẩu quy định Peace is the virtue of civilization. War is its crime, kèm theo câu hỏi Where are you now exactly? ba phút sau khi tôi trả lời, đại ý tôi đang ở nhà bạn tại góc đường Tôn Thất Tùng – Bùi thị Xuân, là lời hẹn bằng tiếng Việt khá chuẩn, tôi xin gặp bạn lúc 15 giờ chiều mai, ở trạm nghỉ chân thứ hai của cầu Dã Viên, phía đường Bùi thị Xuân đi lên, đề nghị mang nửa tờ đô la để đối chiếu và thư của Uncle You. Tên Vũ của Ba được bạn bè gọi trại thành You, tôi hiểu thư ở đây là lá thư cẩm nang mà tôi luôn mang theo mình. Trả lời OK xong, tự nhiên tôi thấy hồi hộp như cô gái mới lớn lần đầu hẹn hò, dù tôi đã gần 30, đã học về tổ chức sự kiện, võ nghệ đủ để tự vệ, đối tượng hẹn gặp có lời lẽ đàng hoảng, chỉn chu, có vẻ học thức, mà điểm hẹn rất khoa học: nếu chỉ hẹn cầu Dã viên thôi thì làm sao phân biệt bờ Nam hay bờ Bắc, xuôi hay ngược sông của chiếc cầu dài hơn ba trăm mét?

Hôm sau, gần ba giờ chiều, tôi thong thả đi bộ đến điểm hẹn, giả vờ đứng hóng mát để giữ chỗ, biết đâu chẳng có cặp đôi nào đó cũng ngẫu nhiên hẹn nhau đúng ở đây, vào giờ này? Thôi giữ chỗ trước là hơn. Hóa ra người định chiếm chỗ hẹn này là có thật, không phải cặp đôi nào mà là hai thanh niên trông rất ngầu, tay anh nào cũng lộ ra vết xăm trổ vằn vện sau chiếc áo pull sặc sỡ. Anh cao hơn hất hàm: Em gái, đứng đây làm gì? Tôi điềm đạm: tôi hóng mát, chỗ công cọng mà! Hắn phẩy tay, cười đểu: Nhưng đây là điểm choác của anh, em muốn đón khứa thì chờ anh choác xong đã, rồi anh sẽ đi với em gái! Mấy người thấy lạ xúm lại, tôi giận tím mặt, định phản ứng, trông dáng đứng lòng khòng, khuỳnh khoàng của hai tên không bảo đảm một thế tấn vững chắc, thì có tiếng can thiệp: Người ta đến trước, hai anh đến sau, sao lại tranh chỗ? Tên cao lớn sừng sộ: Mày muốn làm hiệp sĩ hả, có giỏi vào đây! Tôi quay lại nhìn, anh thanh niên mảnh khảnh mặc áo chemise trắng, quần xanh như lọt thỏm giữa hai tên đầu gấu cao to, môt tên lăm lăm dao con chó đã bật lưỡi, tên kia cũng thủ khúc cây ngắn như chiếc đoản côn. Tôi hơi yên tâm khi thấy anh thư sinh rê chân trái thành thế Trảo mã tấn khá linh hoạt, trong chớp mắt, tôi thấy rõ ngọn cước Bàn long chân phải tung lên trúng cổ tay đang cầm dao con chó, lưỡi dao bay lên thành hình cầu vòng rơi tõm xuống sông, đối thủ ôm tay xuýt xoa lui lại, tên kia vung cây đoản côn định giáng xuống lưng anh thư sinh đang lấy lại thăng bằng, thì tôi đã xoay người nhập nội, tống luôn cú chỏ vào giữa mặt, hắn lảo đảo gục xuống, những người chung quanh ào lại giữ hai tên giao cho công an đang đi đến, làm chứng cho sự cố chúng tôi bị hai tên chích choác dùng vũ khí uy hiếp.

Tại Đồn Công an Phường Đúc, anh thư sinh trình hộ chiếu Mỹ ghi rõ: anh tên David Huỳnh Phong, và giấy chứng nhận là giáo viên ngắn hạn của Trung tâm Anh ngữ EUC. Tôi cũng trình hộ chiếu để khai báo theo nguyên tắc, mấy người làm chứng cũng đưa chứng minh thư và cả hai tên chích, choác nữa, một tên đang bầm tím cổ tay phải, tên kia thì máu mũi vẫn chảy, chắc giập xương lá mía, tôi ra đòn khá nặng. Trong thời gian tường trình, tôi tỉnh táo nhận ra trong ví anh Phong có miếng nhựa trong chứa nửa tờ một đô la…

Ra khỏi Đồn Công An, tôi mỉm cười với anh: số điện thoại tạm thời của tôi ở Việt Nam là 036……, ở đây anh đừng dùng số ở Mỹ phí tiền, anh hơi ngớ người rồi hiểu ngay khi tôi chìa nửa tờ một đô la ra, anh cũng lục ví, lấy miếng nhựa, rút nửa tờ một đô la ráp lại vừa khít, thế là xong phần nhận dạng. Chúng tôi trở lại cầu Dã viên, theo đường đi bộ xuống cồn Dã viên, đến vườn Ngự Uyển, vừa đi vừa nói chuyện. Anh tự giới thiệu về mình: đã cùng gia đình sang Hoa kỳ từ 1970, theo cha là kỹ sư của hãng vận tải JB Hunt, đã học phổ thông ở Heritage, hiện theo năm cuối đại học Virginia ngành Đông phương học, đang về Huế - quê nội, để tìm hiểu chuyên môn cho đồ án tốt nghiệp, thời gian rỗi anh nhận dạy miễn phí tiếng Anh đàm thoại cho EUC - cũng là một cách đóng góp cho quê hương, tôi nghĩ. Trả lời thắc mắc của tôi về võ nghệ, anh thú thật chỉ mới theo học chút xíu Thiếu Lâm Hồng gia trong bốn năm (tôi hơi giật mình, các sư huynh lò Hoàng Phi học 4 năm là được phép thi lên đai trắng rồi, mà anh bảo chút xíu…). Rồi đến chuyện chính Ba tôi nhờ. Tôi bóc cẩm nang, đọc lướt qua, rồi hỏi: Thế anh có biết ông Kelvin Quynce không? anh Phong mỉm cười: Kelvin Quynce có tên Việt là Huỳnh Kiếm, lấy tên Mỹ gần giống với tên gốc, chính là… (anh ngập ngừng) cha tôi! Cả gia đình nhà nội đều có thẻ xanh từ năm 1970 theo họ Quynce, cả chú tôi là Huỳnh Minh đã mất hồi 1972, cũng là Michael Quynce. Trong thư Ba có nói rõ, trung úy Michael Quynce tham gia đoàn biệt kích tiền trạm chiến dịch Lam Sơn 72 cùng chú Trần Hùng quân báo, em kết nghĩa của Ba, bị tử thương ở sông Thạch Hãn. Chú đã kể lại cho Ba trong một bữa nhậu: chính tay chú Hùng đã nhét trong miệng Michael tấm thẻ bài inox, rồi gói xác trong tấm poncho, đào huyệt chôn đúng giữa cây bồ đề và hậu điện sau chùa có tên Linh Quang tự. Chú đã mất ngoài biển khơi trong cuộc tháo chạy năm 1975, nên Ba tự thấy có nhiệm vụ thông báo cho họ Huỳnh/Quynce, nhất là khi ông Kelvin đã nhận Ba vào lái xe trong chi nhánh California của hãng vận tải JB Hunt, giúp Ba thoát được mặc cảm ăn bám, dù chỉ biết Ba là cựu quân nhân Saigon. Chính nghĩa cử này càng thúc đẩy Ba giúp họ Quynce tìm ra thi thể Michael, nhưng đột ngột lâm bệnh nên phải nhờ đến cô con gái rượu. Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ Ba giao phó, sau khi cùng Phong đi đến chùa Linh Quang, trình bày sự việc, hẹn ngày cùng chính quyền địa phương, đại diện Dự án hợp tác MIA tiến hành khai quật. Việc giám định ADN chỉ là thủ tục, khi hàng chục người thấy rõ trong miệng bộ xương cao lớn có tấm thẻ bài (dog tag) ghi rõ tên tuổi, số hiệu quân nhân. Khi Đại diện Dự án MIA hỏi tôi số tài khoản để chuyển khoản tiền thưởng, nhớ lời Ba dặn trong cẩm nang, tôi trả lời vắn tắt, vẫn qua phiên dịch theo quy định: Mục đích của Gia đình tôi chỉ là hỗ trợ tìm tung tích cho các quân nhân mất tích trong chiến tranh, bất kể bên nào. Xin chuyển tiền đến tài khoản thích hợp…

Nhớ lời bác Cả dặn, đúng ngày 26 âm lịch, tôi chuẩn bị ít hoa quả, sắp vào làn mây, báo với Thư: ngày mai mình ra bến xe Đông Ba, về làng chạp họ, Thư chỉ mỉm cười, không nói gì. Hôm sau, vừa xuống xe buýt số 13, đang loay hoay tìm xe buýt số 15 thì David Phong xuất hiện, nhã nhặn mời tôi lên xe 7 chỗ do anh cầm lái: anh xin cùng về làng thắp hương cho Họ, lý do là chính thức mục kích tập tục cúng bái để bổ sung cho đồ án. Đến làng, tôi chỉ biết giới thiệu với mọi người anh Huỳnh Phong, con của bác Kiếm, bạn ba Vũ, đang xin tìm hiểu tập tục cúng bái, cũng may anh nói tiếng Việt rất sõi nên nhanh chóng hòa nhập, anh chụp ảnh đủ các nghi lễ cúng họ, tấm tắc khen ngon khi ăn món xôi gấc với thịt heo luộc. Cuối buổi chạp, ông nội đứng lên, với cả Họ: cháu Phong đây là con anh Huỳnh Kiếm, bạn thằng út Vũ nhà này, đã nhờ cha con thằng út (ông liếc nhìn tôi) tìm ra hài cốt chú ruột là Huỳnh Minh, muốn cảm ơn dòng họ mình bằng cách đóng góp hai mươi ngàn đô la để xây nhà thờ Họ và sửa sang mộ tổ tiên, tôi đã thay mặt dòng họ cảm ơn tấm lòng của họ Huỳnh và mời cháu Phong một chén rượu tri ân.

Tôi im lặng đi ra cổng, bấm Viber thuật chuyện với Ba, bây giờ là giữa trưa, bên Mỹ mới nửa đêm, Ba vẫn còn thức, tôi hỏi: công việc Ba giao đã ổn, nhưng sao Ba không giao thẳng họ Huỳnh cho tiện? nghe rõ tiếng Ba cười: bác Kelvin là thượng nghị sĩ ở  LosAngeles, thỉnh thoảng đến thăm Ba, còn thằng David ở tận Virginia, cả năm mới gặp nhau một lần; hiện nay ở Việt nam hay Triều tiên, trò buôn xác Mỹ đang phổ biến, phải có con kiểm tra đúng người họ Quynce, Ba mới yên tâm; chưa hết đâu, về đây con sẽ biết, qua chuyện Michael, bác Kelvin đã nhắm con cho David, ngỏ ý muốn kết thông gia với nhà mình đó. Tôi ngượng đỏ mặt, quay vào, nghe rõ tiếng anh Phong đang nhỏ nhẹ: Thưa ông nội, con đang tìm hiểu về Triết lý Đông phương học, qua chuyện chú Huỳnh Minh, đã hiểu ý nghĩa của lời dạy thi ân bất cầu báo… Tôi thấy hơi lạ, tại sao anh Phong dùng từ ông nội chú như người trong nhà thế?

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2022

Truyện ngắn 42

   <script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>

NGUỒN GỐC NHỮNG SỰ KIỆN, mẹ kể con nghe

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Trong cuộc sống hàng ngày, có những sự kiện, mới thoạt nhìn qua trông rất đơn giản, có thể lý giải nguyên nhân được ngay. Nhưng nếu bỏ công tìm hiểu nguồn gốc sâu xa, có thể nhận ra nhiều điều thú vị, giúp cho ta thấy rõ tâm lý của đối tượng trong cuộc. Tôi muốn minh họa ý tưởng này qua trong buổi nói chuyện bên chén trà với con gái, đang học lớp 12, nghĩa là bắt đầu biết suy nghĩ, để tập cho con thói quen đánh giá mọi việc một cách cặn kẽ, khách quan. Bắt đầu từ câu chuyện cuộc chạy đua giữa Thỏ và Rùa nổi tiếng, đã được kể từ cuối thế kỷ XVII trong tập Ngụ Ngôn của La Fontaine, sau này nhiều nước đã đưa vào tập truyển cổ tích cho trẻ em: Thỏ thách Rùa chạy thi, nhưng chủ quan, mải mê vui chơi, hái hoa đuổi bướm, đến khi sực nhớ lại thì Rùa đã bò gần đến đích, vội phóng nhanh nhưng không kịp, đành chịu thua; ở đây, không phải chỉ là vấn đề nhất cự ly, nhì tốc độ, mà nguyên nhân sâu xa là do Thỏ đã khinh thường Rùa chỉ biết bò từng bước, tin rằng có thể chấp Rùa một quãng xa, rồi chạy nhanh vẫn thắng, nên cuối cùng phải thua cuộc.

Để sinh động hơn, tôi kể tiếp chuyện của Quỳnh, một đồng nghiệp của tôi: là con gái rượu trong một gia đình nề nếp, cha công tác ở Ban Tuyên huấn, mẹ giảng dạy ở trường trung cấp Chính trị của Tỉnh, ông nội hoạt động cách mạng từ năm 1930 (bà nội mất sớm), Quỳnh rất tự hào về truyền thống chính trị của đại gia đình có tổng tuổi Đảng tới ba con số của mình, tự nhủ luôn nghe lời dặn của Ba Mẹ, chỉ giao thiệp, kết bạn với những người có phẩm chất chính trị vững vàng… Đến khi Quỳnh quen biết Đồng, ban đầu thấy khá yên tâm khi biết Đồng đã nhập ngũ từ chiến dịch biên giới Tây Nam, được cử đi dạy văn hóa ở trường quân chính quân khu với quân hàm thượng sĩ, nay chuyển ngành về cơ quan, được cử làm bí thư Chi đoàn khối văn phòng, lý lịch đảm bảo tiêu chuẩn quá rồi, còn đòi gì nữa?

Vốn cẩn thận, Quỳnh đến Phòng Tổ chức Cán bộ của cơ quan, tìm hiểu kỹ hơn, mới biết thành phần gia đình của Đồng được xếp loại tạch-tạch-sè, nghĩa là tiểu tư sản trí thức; trong sơ yếu lý lịch tự khai, Đồng mồ côi mẹ từ nhỏ, cha cũng đã mất, sinh thời lại là giáo viên lưu dung, dạy tiếng Pháp từ thời Pháp thuộc, có một thời gian tham gia Nam bộ kháng chiến, nhưng trong thời buổi đảng phái nhiễu nhương hồi đó, có ai chẳng tham gia tổ chức này, hoạt động nọ? Rồi anh An, Phó phòng còn nhận xét, số liệu rất chính xác dù ý đồ cung cấp thông tin khá rõ rệt (An đang rắp ranh bắn sẻ Quỳnh): Đồng có tuổi Đoàn mới lên 2, chỉ bằng số lẻ của Quỳnh thôi! Quả thật, Quỳnh sinh ở Thanh Chương, Nghệ An, vào Đoàn từ năm lớp 7 hệ 10 năm, kể cả mấy năm đại học và thâm niên công tác sắp hết tập sự, tính tuổi Đoàn đã gấp mấy lần của Đồng rồi. Một điểm hơi vô lý: bốn năm đại học, và quyết định nhập ngũ vẫn không đủ yếu tố xét kết nạp cho Đồng hay sao?

Thắc mắc nào cũng phải tìm hiểu cặn kẽ. Quỳnh tìm gặp chú Hồng bạn của Ba, đang công tác ở phòng Quản lý sinh viên và Đoàn trường đại học, nơi Đồng đã học, để tìm hiểu chi tiết, thấy rõ nguyên nhân: từ năm học thứ nhất, lúc đất nước vừa thống nhất, thời vàng thau lẫn lộn, hồi đó việc xét kết nạp Đoàn còn phức tạp hơn kết nạp Đảng bây giờ rất nhiều, Đồng là Đối tượng của Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng Huế; sau một năm được bồi dưỡng quan điểm chính trị, Hội kết nạp Đồng, hình thức khá đơn giản qua một quyết định trao tay, kèm theo danh sách hơn chục người của cả trường. Rồi sau mấy năm đại học, từng bước phấn đấu qua đủ các cấp Cảm tình Đoàn, Cơ sở Đoàn, vào đầu năm thứ tư, Đồng được gọi đi học lớp Bồi dưỡng Đối tượng Đoàn của toàn Trường, vỏn vẹn 17 người trên mấy trăm sinh viên đủ ngành cả mấy khóa. Oái oăm thay, có một nguồn tin truyền khẩu không biết từ đâu tung ra, Trường chỉ giữ những sinh viên tốt nghiệp đã kết nạp Đoàn để phân công tác, trở thành bức tường vô hình khó vượt qua, và là nguồn gốc của mọi toan tính, khi số đoàn viên trong Chi đoàn – Lớp trước sau chỉ đếm được trên đầu ngón tay, mà Bí thư chi đoàn (học lực cũng kha khá) tuy không nói ra thành lời, vẫn nuôi mơ ước được giữ lại để nhận công tác ở Trường. Nhiều lý do về lý lịch được suy diễn ra từ vài sự cố chính trị như bạo động, rải truyền đơn… làm trì hoãn chuyện kết nạp Đoàn cho những sinh viên có học lực khá giỏi, với lời phê sau khi được thẩm tra lý lịch: đối tượng cần phải được nghiên cứu/bồi dưỡng thêm vì gia đình có vướng mắc / bản thân có vấn đề, trong khi ở địa phương sở tại, trước đây thuộc loại da báo lẫn lộn, gia đình nào cũng có người ở bên này, bên kia (có một chuyện khôi hài cười ra nước mắt: một gia đình nọ có hai anh em ruột, là sĩ quan trong quân đội Saigon, và sĩ quan bộ đội miền Bắc; trong buỗi giỗ cha, cậu em than thở: em không được Tổ chức giao phó công việc gì, vì vướng anh ruột là sĩ quan quân đội cũ; ông anh cười: ngược lại, sau khi đi học cải tạo về, tao được giám đốc nhận làm trợ lý, tin giao nhiều việc quan trọng, nhờ có em ruột là sĩ quan bộ đội). Đến khi nổ ra chiến tranh biên giới Tây Nam, Trường phát động phong trào sinh viên nhập ngũ để bảo vệ Tổ quốc. Trong khi một số đoàn viên thực thụ lấy lý do hoàn cảnh gia đình, để vắng mặt trong ngày khám sức khỏe chuẩn bị cho đợt tuyển quân, thì đơn tình nguyện nhập ngũ dài ba trang giấy của sinh viên Hoàng Thế Đồng được mang ra đọc trước toàn thể sinh viên; cùng với kết quả sức khỏe loại A1, đương nhiên anh Đồng có tên trong danh sách nhập ngũ; trong tình hình sôi động lúc đó, việc kết nạp vào Đoàn được tạm quên, nên anh nhập ngũ chỉ với tư cách thanh niên trơn. Theo đồng đội kể lại, dù là tân binh tích cực trong huấn luyện, anh vẫn lạc lõng đứng ngoài khi đơn vị sinh hoạt đoàn, trong đó có nhiều đoàn viên quê ở khu IV cũ, mới học hết cấp 2. Sau này, Đồng có tâm sự với Quỳnh, sau mấy tháng huấn luyện ở Can Lộc, Hà Tĩnh, với tấm bằng khen có được sau chiến dịch hộ đê La Giang ở Đức Nhân, Tiểu đoàn chọn anh đi học lớp Đối tượng Đảng ở Trung đoàn, được gọi thì cứ đi, phát triển Đảng không qua giai đoạn phát triển Đoàn cũng được, anh đang học thì đơn vị nhận được lệnh trên, chuẩn bị ra biên giới phía Bắc để tăng cường vào quân đoàn mới thành lập; khi làm hồ sơ Đối tượng, anh không có ngày vào Đoàn (đã kết nạp đâu), chính trị viên Tiểu đoàn thúc Đại đội tiến hành kết nạp sớm, đến khi tổ chức được thì anh đã lên đường theo đoàn tiền trạm ra biên giới: anh được báo ngày vào Đoàn của mình mà không thể giơ tay tuyên thệ vì chỉ được kết nạp vắng mặt. Trở lại chuyện phân công tác sau tốt nghiệp, sau khi xét cắt tốt nghiệp một số sinh viên trốn khám sức khỏe trước đợt tuyển quân, Trường quyết định giữ lại công tác ở Khoa ba sinh viên tốt nghiệp loại khá giỏi, đều là thanh niên trơn, riêng đồng chí Bí thư chi đoàn nhận được quyết định phân công tác về Trường Trung cấp ở tỉnh bạn!

Hết thời gian nghĩa vụ, từ trường quân chính được chuyển ngành về cơ quan, với thành tích mấy năm quân ngũ, giấy chứng nhận đối tượng Đảng trong chiến tranh, anh Đồng được các đoàn viên bầu vào Ban chấp hành Chi đoàn với số phiếu gần như tuyệt đối, rồi được tín nhiệm giữ chức vụ Bí thư. Sau khi đã thống nhất ý kiến với anh, Quỳnh mạnh dạn giới thiệu Đồng là bạn trai với Ba Mẹ và Ông Nội (không phải lo chiều ngược lại, vì anh đã mồ côi cả cha lẫn mẹ), hy vọng tìm được vài phiếu thuận. Quả nhiên, Ông nội và Ba (đã trải qua quân ngũ) có thiện cảm ngay với quá khứ bộ đội cũng như lý lịch tương đối sáng sủa của anh, ông nội mời anh ở lại ăn trưa với gia đình, Ba thì mê mẩn đối đầu với anh bên bàn cờ tướng, chỉ có Mẹ hơi ngần ngừ sau mươi phút nói chuyện, căn dặn riêng Quỳnh nên cân nhắc kỹ lưỡng nếu muốn quan hệ tình cảm lâu dài. Mẹ thấy cậu Đồng tính khí rất cương quyết, khi đã có chính kiến là quyết làm cho bằng được, thời buổi này mà không biết mềm nắn, rắn buông là dễ đụng chạm, sớm muộn rồi cũng ảnh hưởng đến người thân. Quỳnh cho rằng Mẹ lo hơi xa, anh Đồng chỉ làm việc hành chính, có va chạm với ai mà lo ngại, nhưng dù sao cũng nên phòng xa, rồi qua thời gian Quỳnh sẽ tìm cách uốn nắn anh dần. Dù sao, nghe nói anh Đồng về cơ quan là do bạn của bác Phúc phó giám đốc giới thiệu, được cái ô to như thế che trên đầu thì ngại gì mưa nắng nữa?

Lời mẹ của Quỳnh tiên đoán hóa ra có thật. Đụng chạm đầu tiên của anh Đồng trong cơ quan là với chú Đinh trưởng phòng, đồng thời

cũng là Bí thư Chi bộ trong Đảng. Chuyện vô cùng đơn giản: chú Đinh muốn làm một giấy công tác cho cháu là người ngoài cơ quan, mà anh Đồng đang quản lý con dấu; thật ra, với tư cách Trưởng phòng Hành chính, chữ ký của chú Đinh vẫn đủ thẩm quyền để đóng dấu; trước đây khi bác Toại chưa về hưu, con dấu để trong hộc tủ không khóa, chú Đinh thường ký vào giấy công tác rồi tự lấy con dấu cộp vào, đã thành thông lệ. Từ ngày anh Đồng thay chân bác Toại, anh xin cơ quan lắp một khóa chìm vào ngăn kéo để con dấu, bên trên là cuốn sổ ghi rõ loại giấy tờ đóng dấu, ngày giờ, họ tên của người ký trên con dấu. Chú Đinh là Trưởng phòng, ký tên đóng dấu là chuyện bình thường, nhưng theo nguyên tắc, tên người nhận giấy công tác phải thuộc biên chế cơ quan, anh cũng không đồng ý để chú Đinh ký giấy khống chỉ. Sau một lần tranh cãi giữa hai bên dẫn đến to tiếng, bác Phúc phó giám đốc phải can thiệp, bác gọi chú Đinh vào Phòng Phó Giám đốc khá lâu, chắc để thống nhất ý kiến, sau đó toàn cơ quan được phổ biến quy định về sử dụng con dấu, phù hợp ý kiến hợp pháp của anh Đồng, qua sự cố đó, trông chú Đinh có vẻ cay cú lắm. Từ đó, quan hệ giữa bí thư Chi bộ và bí thư Chi đoàn bỗng dưng căng như sợi dây đàn, chú Đinh luôn tỏ thái độ hậm hực khi có mặt anh Đồng, riêng anh Đồng vẫn thản nhiên làm việc như bình thường, cố gắng duy trì đi làm đúng giờ. Quỳnh làm việc ở bàn kế toán gần anh Đồng, nhớ có lần, anh đến cơ quan chậm vài phút so với quy định, chị Hoa Phó phòng (vốn thân quen với chú Đinh) đã phê bình kịch liệt, giống như anh vừa vi phạm một khuyết điểm trầm trọng. Các nhà tham mưu con cũng nhỏ to bình luận, đừng tưởng cậu Đồng trên răng dưới cát-tút mà coi thường, chọc vào đó như chọc vào ổ kiến lửa… Có người còn thêu dệt biết đâu bác Phúc (phó giám đốc, phó bí thư đảng ủy) đang nhắm cậu Đồng làm con rể, chính Quỳnh cũng giật mình, nhớ ra chị Thiên Kim con bác Phúc là bạn học cũ của anh Đồng, thuộc loại sắc nước, hương trời, nổi tiếng ăn diện trong giới phụ nữ, mấy lần Quỳnh nghe các bạn gái thách chị Thiên Kim cưa đổ cây lim cổ thụ Đồng. Nhưng Quỳnh cũng yên tâm khi biết tính anh Đồng, rất kỵ phụ nữ chạy theo thời trang, Quỳnh nhớ có lần anh đã chơi chữ són phân để nói về các cô gái đua đòi son phấn…

Mọi người đang sôi nổi tranh luận về thế mạnh ô dù của anh Đồng thì một sự kiện bất ngờ xảy ra. Đúng ngày thứ hai đầu tuần, một chú công an mang quân hàm đại úy đi xe chuyên dụng 4 chỗ, đến gặp giám đốc Hòa, nghiêm chỉnh chào theo quy định, rồi đưa giấy mời bác Phúc, phó giám đốc cùng anh Đồng, nhân viên hành chính quản lý con dấu cơ quan, đến Công an Thành phố để làm sáng tỏ một số vấn đề, cụm từ thường dùng của ngành tư pháp khi bắt đầu một chuyên án. Bác Phúc hầm hầm cắp cặp ra xe trước, ngồi cạnh lái xe, miệng lầu bầu đồ phản phé, anh Đồng và đại úy công an ngồi ghế sau. Mọi người xúm lại hỏi giám đốc Hòa, ông cho biết Công an Thành phố muốn xác minh một vài giấy tờ khá mập mờ trong dự án hợp tác với tổ chức phi chính phủ Đông Tây Hội Ngộ mà bác Phúc là chủ dự án, theo đề nghị của nước bạn. Chúng tôi chỉ biết đến thế, giám đốc Hòa cũng không biết gì hơn vì mọi việc thuộc Dự án đều ủy quyền cho phó giám đốc Phúc, phụ trách Đối ngoại.

Mọi việc được sáng tỏ sau đó một ngày, khi anh Đồng được tại ngoại, thay vào đó là chú Đinh, Trưởng phòng Hành chính. Khi gặp gia đình Quỳnh, anh cho biết (giống như đã tường trình với giám đốc Hòa) Công an Thành phố muốn làm sáng tỏ nguồn gốc của những hợp đồng kinh tế lưu hành song song, với số liệu hoàn toàn khác nhau. Hóa ra, khi hợp tác với các tổ chức nước ngoài, cơ quan thường thảo ra hai bản hợp đồng kinh tế tương đương với hai bộ số liệu hoàn toàn khác nhau, một loại số liệu để xin hỗ trợ vốn, càng cao càng tốt, một loại số liệu thì ngược lại, thấp nhất nếu có thể, để thực chi và đối phó với Cục thuế, riêng phần chênh lệch để làm gì, chỉ có Trời biết! Tổ chức nước ngoài phát hiện ra, đề nghị Công an Thành phố hỗ trợ làm sáng tỏ. Sau khi biết thời điểm bắt đầu giữ con dấu của anh Đồng, chỉ sau một giờ làm việc với bác Toại đã nghỉ hưu, Công an cho cả hai tại ngoại, thay vào đó là chú Đinh, đã từ lâu là cánh tay mặt của bác Phúc. Hôm sau, chị Thiên Kim hùng hồn tuyên bố với nhiều người, cái gì không mua được bằng tiền vẫn có thể mua được bằng rất nhiều tiền. Chị tỏ ra rất thân mật với anh Đồng, rồi mới tối hôm qua, chị tìm đến nhà trọ của anh, sau khi liếc mắt đưa tình khá lộ liễu (tôi thấy rõ anh thoáng đỏ mặt khi nhắc đến chi tiết này), đã đưa một số văn bản được ghi ngày tháng cách đây đã mấy tháng, kèm theo một chiếc phong bì dày cộm, đề nghị anh sáng mai đến cơ quan đóng dấu vào. Anh Đồng đã thẳng thắn từ chối, bảo thẳng lương tâm không cho phép, và đề nghị chị Kim nhắn lại với những người sau lưng chị, hãy mạnh dạn khai báo sự thật để hưởng lượng khoan hồng. Chị Kim vùng vằng bỏ ra về, sau khi lớn tiếng mắng anh đồ ngu, đã nghèo mà còn sĩ, anh đã thắp hương ngoài trời (ở nhà trọ làm gì có bàn thờ) khấn với ba mẹ, con tự hào đã là con của Ba Mẹ, rồi hôm sau, anh đến thăm gia đình Quỳnh, thuật lại mọi chuyện, có cả ông nội chăm chú lắng tai nghe. Mẹ Quỳnh không nói gì, chỉ bảo: Thôi từ nay, mỗi ngày cháu ghé ăn cơm với gia đình cả hai buổi sáng chiều cho vui cửa vui nhà, chẳng có gì mà ngại, chỉ thêm bát đũa thôi. Quỳnh cũng đã hiểu, Mẹ muốn giữ chân Đồng khỏi vướng vào những bất trắc có thể gặp trong cuộc sống độc thân.

Câu chuyện cuối cùng đã ngã ngũ, bác Phúc đã nhận quyết định về hưu sớm dù chưa đến tuổi, chú Đinh đã chuyển công tác sang cơ quan khác, đảm nhiệm công tác phong trào do lãnh đạo chiếu cố bề dày công tác nên không truy tố ra trước pháp luật, dù đối tác nước ngoài đẫ đề nghị. Đồng và Quỳnh đã về với nhau sau một đám cưới đơn giản nhưng thật đầm ấm, con cũng đã lớn. Cuộc sống gia đình tuy không dư giả nhưng khá bền vững vì hai bên đã cùng nhau vượt qua thử thách.

Tôi thở một hơi dài, tạm chấm dứt câu chuyện, quay lại nhìn con. Con bé mỉm cười: Chuyện thú vị lắm, Mẹ ạ! Con chỉ thắc mắc một điều… Tôi nhỏ giọng: Gì hả con? Con bé trầm ngâm: Con nhớ lại, bạn của Mẹ có ai tên Quỳnh đâu! Mà sao những nhân vật trong gia đình Quỳnh lại giống nhà mình thế? Vậy cô Quỳnh có phải là… Tôi ngắt lời, xoa đầu con: … là Mẹ, con ạ! Con gái của Mẹ cũng thông minh đấy chứ!


Thứ Tư, 13 tháng 7, 2022

Truyện ngắn 41

 <script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"

     crossorigin="anonymous"></script>

MẶT TRÁI CỦA HÀNH ĐỘNG

Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Mồ côi cha từ khi còn nhỏ, đến khi trưởng thành, anh Giao và tôi chỉ được chăm sóc trong vòng tay của Mẹ và nhà ngoại. Cả nhà nội đã không công nhận Mẹ, khi Ba cương quyết phản đối Ông Nội, một ông đồ thời Nho học thất thế, dự định thông gia với một bạn học quý tộc, để đến với Mẹ, em của cậu Huy, bạn học thuở nhỏ của Ba, vốn xuất thân từ một gia đình ngụ cư trong làng (ông ngoại làm nghề chài lưới, bà ngoại ngoài công việc nội trợ hàng ngày, chỉ biết bắt ốc, mò cua, đánh dậm để hỗ trợ mưu sinh cho gia đình 4 người - Ông, Bà, cậu Huy và Mẹ). Gần một năm sau đám cưới đơn giản của Ba Mẹ (đại diện có Nhà Trai chỉ có vài bạn của Ba, sẽ cùng Ba nhập ngũ trong đợt tuyển quân một tháng sau, dự mâm cơm đạm bạc cúng gia tiên), anh Giao và tôi cùng cất tiếng khóc chào đời ở Bệnh viện Huyện (y tá Trạm xá Xã chẩn đoán song sinh, cho chuyển lên Huyện, ông ngoại và cậu Huy phải cáng võng Mẹ đi), tôi ra đời sau một phút nên chịu phận làm em (về sau, các bạn học ngành y khoa bảo đúng ra, tôi phải làm chị, vì hình thành trước trong bụng mẹ; nhưng đã quen nếp rồi, tôi cứ gọi anh Giao). Dù nghèo, ông bà ngoại cũng theo thủ tục địa phương, tổ chức đám cưới giả cho hai anh em tôi khi vừa lên hai, với sự tham gia của gia đình cậu mợ Huy Thảo và vài người láng giềng. Hôm đó, anh em chúng tôi vui sướng được súng sính trong chiếc áo dài trẻ con, mọi người bảo giống vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu, dù điều kiện gia đình chúng tôi so với gia đình hoàng tộc như vực thẳm với bầu trời. Niềm vui vụt qua thoáng chốc, chỉ hơn một tháng sau, gia đình nhận được giấy báo tử từ đơn vị ở biên giới gởi về. Mẹ ngất lên ngất xuống mấy lần khi thấy giấy báo tử ghi rõ tên Ba, rồi ông bà ngoại cũng khóc vì thương xót con rể, được quý như con đẻ, riêng cậu Huy gạt nước mắt trầm ngâm rồi, sau khi bàn với mợ Thảo, tuyên bố sẽ nhận nuôi anh em tôi đến khi trưởng thành, theo nguyện vọng mà Ba tôi đã ghi trong lá thư gởi về cuối cùng, trước đó ba tháng (xem như lời trăn trối), dặn Mẹ cố nuôi dạy con học hành được như cậu Huy (đã tốt nghiệp cấp ba, xem như học cao nhất trong họ, vì Mẹ và mợ Thảo mới hết cấp 1), có lẽ vì Ba cảm nhận được sự khốn khổ của người ít học. Chính cậu Huy cũng rất quan tâm đến việc học, từ khi bắt đầu làm thầy giáo, Cậu đã đề xuất thành lập Hội Khuyến học của Huyện, được tín nhiệm cử làm Hội trưởng; kinh phí hoạt động của Hội được trích từ đóng góp khiêm tốn hàng tháng của các hội viên (đều trong giáo giới), mỗi năm có được vài học bổng nho nhỏ cho các em học sinh nghèo, học giỏi và phát thưởng khích lệ các học sinh khá giỏi.

Biết là Ba không còn, nhưng chúng tôi còn quá nhỏ để thấu hiểu nỗi mất mát mất Ba, mà hình tượng chỉ nhận biết qua mấy lá thư gởi về, được cậu Huy đọc cho cả nhà nghe, và một tấm ảnh trắng đen chụp chung cả tiểu đội tám người ở thị trấn Đồng Đăng (phụ cấp lính thời đó chỉ có năm sáu đồng, anh em được nghỉ ngày chủ nhật, cùng ra thị trấn chụp ảnh chung, sang ra cho từng người để tiết kiệm), cả nhà nhận ra Ba nhờ đôi lông mày rậm trên cặp mắt xếch ngược, còn trong ảnh, mặt mũi ai cũng đen đúa, khắc khổ vì nắng gió, bộ quân phục Xuân Hè trên mỗi người đều rách nát như nhau… Về sau, ảnh Ba trên bàn thờ (Mẹ đã lên Hiệu ảnh trên chợ Huyện, tốn mất mười đồng – bằng giá mấy cân gạo – để lồng khuôn mặt Ba vào trong bộ quân phục nguyên vẹn hơn thực tế, với quân hàm binh nhất – đúng như giấy báo tử cho B1 Hoàng Vũ) mới được tái hiện rõ ràng hơn, bắt đầu thâm nhập dần vào tiềm thức anh em chúng tôi.

Cũng trong thời gian đó (làng xã khá nhỏ nên tin tức lan rất nhanh, như tin Ba hy sinh), ban đầu nhà Nội bắn tin sang nhà Ngoại, về sau cho cả bác Minh, anh cả trong nhà, thay mặt ông bà Nội sang thuyết phục, xin đón cháu Giao về nuôi dưỡng, dù sao cũng là máu mủ họ Hoàng bên Nội, cả cháu Quỳnh (là tôi) nữa, nếu gia đình nhà Ngoại đồng ý, vì bên Nội có điều kiện hơn (bác Minh đã chuyển sang nghề kinh doanh địa ốc, đang sở hữu mấy lô đất mặt tiền, đang được xem như đại gia). Mẹ không nói gì, còn ông ngoại cũng như cậu Huy đều cương quyết từ chối, cuối cùng, cậu Huy chỉ nói một câu làm bác Minh tắc tị: Cảm ơn anh, chúng tôi tự thấy lo cho các cháu được; anh cho gởi lời thăm Chị và các cháu bên nhà, chắc sắp đến tuổi xuất giá, tòng phu rồi! Cậu muốn nhắc khéo đến gia cảnh bác Minh, đã hơn 60 rồi mà tương lai chỉ sẽ làm ông ngoại thuần túy, nhà Nội không ai dám đề cập đến lý do đem anh Giao về để nhà Nội có đứa chống gậy sau này, việc xin cho tôi đi kèm anh về nhà Nội chỉ là đãi bôi. Thật ra, dù tên Hoàng Vũ của Ba đã bị gạch bỏ trong cuốn sổ gia phả họ Hoàng, anh tôi vẫn giữ họ tên đầy đủ Hoàng Tấn Giao, cũng như tôi là Hoàng thị Như Quỳnh. Qua sự kiện này, tôi càng hiểu hơn ý nghĩa câu nói L’enfer est plein de bonnes volontés ou désirs (Địa ngục đầy những ước nguyện và khát khao tốt đẹp) của thánh Bernard, tôi được học sau này trong cuốn Ngôn ngữ và Văn Minh Pháp của G.Mauger, có thể phân tích thành: việc làm sai trái hay hành động xấu thường được che đậy bởi những ý định tốt. Từ đó trong thâm tâm tôi, đã hình thành một phản xạ có điều kiện, tôi luôn cân nhắc, suy xét cẩn thận nguyên nhân, nguồn gốc trước một hành động được xem là nghĩa cử.

Mẹ con chúng tôi vẫn ở trong nhà căn nhà ba gian, hai chái của ông bà ngoại và cậu mợ Huy Thảo ở không xa thành phố (ông bà ngoại đã già yếu, cậu là giáo viên trường cấp 3 của Huyện, mợ tuy chỉ là giáo viên mầm non, nhưng có nghề phụ là cắt may quần áo khá đắt khách, nên có thể tích lũy để xây dựng, sửa sang, mở rộng nhà cửa), các anh chị con cậu mợ đều gần gũi, thương yêu anh em chúng tôi. Riêng phụ cấp hàng tháng và tiêu chuẩn gia đình liệt sĩ, sau khi nghiên cứu hoàn cảnh gia đình của Ba trước khi nhập ngũ, qua khá nhiều cuộc họp, Sở Lao động – Thương binh xã hội của Tỉnh quyết định cho Mẹ và anh em chúng tôi hưởng. Lương công nhân dệt của Mẹ (đã lên đến bậc 5/7) đủ để nộp tiền ăn hàng tháng cho Cậu Mợ (dĩ nhiên, Cậu Mợ vẫn phần nào bao cấp, dù không bao giờ nói ra, rõ ràng đây là tấm lòng thơm thảo của Cậu Mợ đối với hai cháu côi cút), anh em chúng tôi có thể theo đuổi việc học đến hết cấp 3. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh Giao tham gia nghĩa vụ quân sự, rồi được đơn vị cử đi học ở Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông tin ở Đồng Đế, Nha Trang; sau khóa học bốn năm, anh tốt nghiệp loại Giỏi, được phong quân hàm Trung úy, và được bổ nhiệm về Văn phòng Bộ Tư Lệnh ở Cát Linh, Hà Nội. Riêng tôi vẫn đam mê văn học sử Pháp, sau khi đậu bằng DELF cấp độ A2 (nhờ công sức của tôi theo đuổi cấc lớp học ban đêm, cộng với sự động viên, hỗ trợ của Mẹ và gia đình nhà ngoại), tôi mạnh dạn làm đơn thi vào Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế, ngành Ngôn ngữ Pháp và may mắn trúng tuyển. Với điểm đậu khá cao so với điểm chuẩn, tôi nghĩ sức mình có thể đậu vào ngay cả ngành Sư phạm Pháp, nhưng tự thấy khó xin được nhiệm sở phù hợp sau khi tốt nghiệp nên chọn Ngôn Ngữ cho chắc ăn. Một đồng đội, trước kia đã cùng học cấp 3 với anh Giao tôi, quê ở xã bên, đã chuyển ngành về công tác ở Sở Giáo dục, hứa sẽ xin nhiệm sở tốt cho tôi nếu tôi học ngành Sư phạm Pháp, nhưng sau sự kiện nhà Nội xin đem anh Giao về nuôi, tôi như con chim đã bị ná, thấy cây cong là sợ, không dám đặt niềm tin vào bất kỳ ai cả.

Cuối cùng, tôi cũng tìm ra một công việc phù hợp ở Công ty Quốc Cường, chuyên sản xuất, thu thập các mặt hàng mộc, mỹ nghệ trong Tỉnh để xuất khẩu ra nước ngoài, chủ yếu ở châu Âu như Pháp, Bỉ, Thụy sĩ… Giám đốc Công ty là bác Cường, đồng đội cũ của Ba tôi, thuộc nhóm 8 anh em đã chụp ảnh chung ở Đồng Đăng, trước đây có đến thăm nhà ngoại, thắp hương cho Ba... Nghe Mẹ kể chuyện tôi đã tốt nghiệp ngành Ngôn ngữ Pháp, Bác ngỏ ý với Mẹ muốn nhận tôi về, vì Công ty đang cần một trợ lý đối ngoại biết tiếng Pháp, chứ tiếng Anh thì có nhiều rồi. Sau khi hỏi tôi mấy câu, Bác viết luôn một lá thư để ngỏ, bảo tôi đưa cho Trưởng phòng Tổ chức – Nhân sự của Công ty để làm thủ tục, vì ngày mai Bác phải sang Bỉ để ký kết hợp đồng, mà tuần sau mới bắt đầu thi tuyển. Tôi cầm trong tay lá thư gởi gắm đó, nhưng cất kỹ như mèo giấu phân, vì tôi không thích tìm việc làm bằng đường quan hệ, mà muốn đi bằng chính đôi chân của mình. Hôm sau, tôi đến Công ty, nộp hồ sơ xin tuyển dụng, đóng lệ phí như các ứng viên khác (dự kiến sẽ khá căng thẳng, Công ty chỉ tuyển một biên chế mà đã có trên mười đơn dự tuyển), vẫn giấu bản photocopy giấy chứng nhận liệt sỹ của Ba và lá thư gởi gắm của Bác Cường giám đốc. Đến buổi thi tuyển đầu tiên, tôi vượt qua vòng loại về chuyên môn khá vất vả, vì ngoài khả năng tiếng Pháp, Hội đồng Tuyển dụng còn kiểm tra cả tiếng Anh nữa; tôi được hẹn đến vòng hai vào buổi chiều cùng với hai ứng viên khác, để kiểm tra phần ứng xử đời thường; còn vòng ba, phần lý lịch gia đình, sẽ do Hội đồng tự xét hồ sơ, quyết định và công bố kết quả vào sáng mai. Đến vòng thứ hai, vào đầu giờ chiều, các ứng viên đang chờ vào thi, thì thấy bác Tân, Chủ tịch Hội đồng Tuyển dụng bước vào phòng, vừa đi vừa nghe điện thoại di động khá lâu. Mười phút sau, ông tùy phái gọi: Mời ứng viên Nguyễn thị Như Quỳnh vào! Tôi đứng dậy đi vào, hơi thấy lạ vì vần Q tên tôi lại bị gọi trước hai đối thủ, mang tên vần M và H. Sự việc tiếp theo thật bất ngờ, cả Hội đồng lại không chất vấn tôi câu nào cả, bác Tân chỉ phê bình tôi giấu lá thư Giám đốc nhờ đưa, rồi mỉm cười: Chính điều đó giúp chúng tôi quyết định cho em đi tiếp vòng sau; trong sáng mai, em phải bổ sung hai thứ: một là lá thư tay Giám đốc gởi cho tôi, hai là bản photocopy không cần công chứng giấy chứng nhận liệt sĩ của Ba em… Các đối thủ thấy tôi ra về chỉ sau mấy phút phỏng vấn, hí hửng chắc mẩm tôi đã bị loại, họ không ngờ đến sáng mai, tôi đã mang hai thứ giấy tờ theo yêu cầu đến để đổi lấy tờ Thông báo Trúng tuyển vào Công ty… Về sau tôi mới biết, trong buổi Lễ Ngày Thương binh – Liệt sĩ, bác Cường giám đốc kể: trong cuộc chiến chống cường tập ở biên giới, anh Hoàng Vũ, A. trưởng (tức Ba tôi) đã cõng tôi đang bị thương ở chân nên trúng đạn của địch, hy sinh: cuộc sống của tôi bây giờ xem như là do anh ấy nhường lại! Một lần nữa, tôi lại thấy rõ hành động thi ân bất cầu báo của Ba khi còn sống, chắc chắn Ba đã giúp bác Đại chỉ từ tình nghĩa đồng đội, chứ chẳng vì nguyên nhân gì khác.

Một nhân tố để tôi thay đổi cách nhìn tương đối khắt khe về các hành động chính là anh Hùng, con của bác Cường giám đốc, cũng công tác trong Phòng Đối ngoại, nhưng thuộc Tổ tiếng Anh. Anh thi vào Công ty trước tôi một năm, khi đó đã lẳng lặng nộp hồ sơ và dự thi tuyển, không hề lấy tiếng là con giám đốc, mà chỉ khai trong lý lich: tên cha là Trần văn Cường, nghề nghiệp tiểu thủ công, kể ra cũng đúng trên thực tế (có mấy ai biết tên cúng cơm của Giám đốc Công ty Quốc Cường đâu? tôi cũng khai trong lý lịch: cha là Hoàng Vũ, đã chết). Đến buổi trình diện của các nhân viên mới trước Lãnh đạo, mọi người mới vỡ lẽ khi biết anh là con trưởng của Giám đốc đang trong cảnh gà trống nuôi con. Công việc hàng ngày luôn được anh hoàn thành với hiệu suất cao, dù thế anh vẫn đi làm với trang phục giản dị theo quy định, đi về rất đúng giờ trên chiếc xe Cub 50 cũ. Mọi người trong Công ty đều nể trọng anh, không chỉ vì hiệu quả công việc, mà còn vì cổ phần gia đình bác Cường trong Công ty khá lớn, mấy năm nữa bác Cường đến tuổi nghỉ hưu, chức Chủ tịch Hội đồng Quản trị chạy đâu khỏi tay anh? Tuy nhiên, đối với riêng tôi, anh chỉ đơn thuần là một đồng nghiệp vui tính, dễ gần gũi, sẳn sàng giúp đỡ mọi người khi cần thiết. Tuy anh có vẻ ít nhiều có cảm tình với tôi, tôi cũng cảm thấy gần gũi với tính cách của anh khi thấy rõ hai bên có cách ứng xử tương tự khi xét tuyển, nhưng tôi tự đặt ra một ranh giới mơ hồ nhưng vững chắc giữa hai người, tránh tối đa dư luận thấy người sang, bắt quàng làm họ mà những kẻ ngồi lê, đôi mách thường gán.

Thật ngẫu nhiên, số mệnh đã đưa đẩy chúng tôi xích lại gần nhau hơn…

Tôi nhận được tin nhắn trên Zalo của anh Giao, hẹn tuần sau sẽ về quê nghỉ phép năm 10 ngày để thăm gia đình, tổ chức sinh nhật cho Mẹ và giới thiệu Phượng, cô bạn gái thân thiết cùng quê, đang công tác ở Cục Cơ Yếu với gia đình. Riêng với tôi, anh nhờ sắp xếp thời gian có một buổi rảnh rỗi, cùng đi với anh đến thăm gia đình Phượng, đang cùng nghỉ phép năm với anh, vì anh khá vụng về trong giao tiếp, ăn nói kém, đặc biệt trước con gái…, và vài chuyện khác nữa. Tôi cũng tò mò muốn biết mặt cô gái đã chiếm trái tim anh Giao, từ lâu đã được bạn bè tặng biệt danh Tôi Ghét Phụ Nữ, đối lập với nhà văn Đái Đức Tuấn – TYPN, nên nhận lời ngay, kèm theo một chút háo hức. Thế là, sau khi đã trao quà cho ông bà nội, cậu mợ và các anh chị, anh Giao cùng tôi tỉ mẩn dùng nước sôi nguội rửa sạch ba cân mơ (anh khoe: đúng mơ ở chùa Hương, mà cả Mẹ lẫn tôi đều thích), rồi ngâm với ba cân đường trắng trong lọ thủy tinh cho Mẹ dùng dần, rồi nháy mắt với tôi, cùng xuất phát; đã biết địa chỉ (chắc có hẹn trước rồi), anh đèo tôi trên xe máy đến nhà Phượng để trình diện. Trên đường đi, anh kể lại cho tôi dịp làm quen ở Hà Nội (chắc Phượng chủ động, chứ anh Giao tậm tịt biết làm gì?), mô tả gia cảnh nhà Phượng: mẹ mất sớm, nhà chỉ còn ba và anh trai (có lẽ vì cùng cảnh mồ côi từ nhỏ nên anh Giao và Phượng dễ thông cảm với nhau chăng?). Tôi mải mê trò chuyện, không chú ý đến đường sá, đến khi phát hiện đường đi sao quá quen thuộc thì đã đến nơi. Đúng là nhà của bác Cường giám đốc Công ty, hay nói đúng hơn là nhà anh Hùng cùng Phòng mà tôi đang cố tránh tiếp xúc. Tôi ngỡ ngàng nhận ra Phượng chính là em ruột anh Hùng, nghĩa là trong tương lai, nếu anh Giao và Phượng đến với nhau, thì tôi và anh Hùng sẽ thành người nhà, rất khó tránh mặt. Tôi chặc lưỡi, thôi kệ, đến đâu hay đó, mình không cố tình là được. Cũng may, anh Hùng có việc bận, đi vắng, tôi tránh được tình trạng khó ăn nói, dễ dàng ngồi tâm sự với anh Giao và Phượng.

Phượng rất tâm lý, cô có vẻ thông hiểu những lục đục giữa hai gia đình nội, ngoại của chúng tôi nên tìm cách hàn gắn lại, mà điểm kết nối là chúng tôi, đặc biệt anh Giao. Cô thuyết phục chúng tôi nên gạt bỏ tự ái, thù hận sang một bên, dù sao cũng là máu mủ, ruột thịt với nhau, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhất là ông nội đã gần trăm tuổi, chỉ mong gặp được cháu nội trai để yên tâm có thằng chống gậy khi ông nằm xuống. Tôi đoán bác Minh đã tìm cách kết nối với anh Giao, kể hết tâm tư nguyện vọng của ông nội, chắc anh băn khoăn không biết giải quyết ra sao nên đã tâm sự với Phượng, hôm nay nhân có tôi, Phượng trình bày chính kiến của mình, đồng thời thuyết phục hai chúng tôi luôn. Thật ra, tôi cũng nghĩ như Phượng, oán thù nên cởi ra chứ không nên buộc lại, nhưng dù sao chuyện này không thể tự chúng tôi quyết, còn ý kiến của ông bà ngoại, cậu mợ nữa. Tôi chỉ trả lời nước đôi với Phượng, anh em chúng tôi sẽ suy nghĩ kỹ về ý kiến của Phượng, đồng thời thăm dò ý kiến mọi người trong nhà ngoại rồi sẽ chính thức quyết định.

Về đến nhà, sau bữa cơm tối, tôi rót trà mời ông bà, cậu mợ uống rồi khẽ khàng trình bày ý định xóa tan mối hiềm khích giữa hai gia đình nội, ngoại. Bà và Mẹ, cũng như Mợ nghe xong, chỉ khẽ gật đầu không nói gì, đưa mắt nhìn Ông và Cậu, hai người thường chốt các quyết định trong nhà. Ông cười nhẹ: Ngày trước, tao bực mình vì bên Nội có vẻ coi thường nhà mình nên trị cho biết. Đã mấy chục năm, xem chừng đã thấm rồi, thôi cũng mở lòng cho họ. Cậu tiếp lời Ông: Hai cháu đã trưởng thành, có thể cân nhắc điều hay, lẽ phải để xử sự cho đúng. Cái chính là đừng để bị coi thường, sĩ khả sát bất khả nhục mà! Thế là xem như đã thống nhất ý kiến, tôi liền gọi bác Minh, xin hẹn sáng mai anh Giao đến thăm ông nội nhân ngày phép năm. Một phút sau, bác điện lại cho tôi: Ông bảo rất vui được đón tiếp cháu nội, không phải chỉ ngày mai mà bất cứ khi nào, ngay bây giờ cũng được. Tôi ngỡ ngàng: Dạ thôi, đã khuya rồi, chúng cháu xin hẹn tám giờ sáng mai. Anh Giao điện ngay cho Phượng, báo thành quả, và hẹn bảy giờ sáng mai cùng đi ăn sáng, mời cả anh Hùng luôn, (tôi há miệng mắc quai rồi), cùng đến nhà nội.

Thêm một bất ngờ đón chúng tôi ở nhà Nội.

Vừa nghe anh Giao giới thiệu xong, ông nội đã sững sờ nhìn chăm chăm Phượng, nhấn mạnh từng chữ: Thế cháu có biết bà Công Huyền Tôn Nữ Thu Bình, con ông Bửu Hiệu không? Phượng sẽ sàng: Thưa ông, Thu Bình là mẹ ruột cháu, còn Bửu Hiệu là ông ngoại cháu ạ.

Ông nội gật đầu: Đúng rồi! Có ai bảo, cháu giống mẹ lắm không? Nhìn cháu, ông đoán ngay là con mẹ Bình. Ông vẫy tất cả chúng tôi lại ngồi bên cạnh, trầm giọng: Hồi đó, ông định ước hẹn với ông Bửu Hiệu bạn ông, hai bên kết thông gia với nhau, thằng Vũ (ông lại nhìn anh em chúng tôi) lấy con Bình. Nhưng thằng Vũ cương quyết không chịu, tự lấy mẹ các cháu, sinh được hai đứa, (rồi ông quay qua anh em Hùng, Phượng) thôi thì duyên số cả, mẹ các cháu không làm con dâu ông, thì có cháu dâu thay vào. Ông thấy toại nguyện rồi.

Tôi biết anh Giao không quan tâm đến kinh tế, nên thật ngỡ ngàng khi nghe nói ông nội đã cho anh hai mươi lạng vàng làm quà cưới. Anh đâu có thiếu tiền để nhận từ nhà nội, nơi đã gây bức xúc nhiều năm cho nhà ngoại? Không nín được, tôi tìm gặp anh hỏi cho ra nhẽ. Anh lẳng lặng đưa cho tôi xem cuốn sổ tiết kiệm với con số hơn một tỷ đồng, tương đương hai mươi lạng vàng theo giá thị trường, ghi tên cậu Huy, kèm theo giấy thỏa thuận: chỉ dùng tiền lãi suất hàng năm để làm học bổng, phần thưởng cho học sinh nghèo trong huyện. Anh thầm thì: Anh không hề quên tấm lòng của Cậu Mợ đã bảo bọc anh em mình suốt bao năm trời, nên tận dụng quà cưới của ông nội để hỗ trợ Cậu về hoạt động Khuyến học mà Cậu đã tâm huyết lâu nay, đồng thời cũng thỏa mãn tâm nguyện cuối đời của ông nội. Tôi thầm nghĩ trong đầu, mà không dám nói ra thành lời: Không chỉ riêng anh đâu lo cho ông đâu, biết đâu trong tương lai còn có em nữa.