Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

Tản văn 21

<script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"
     crossorigin="anonymous"></script>
GIÁ TRỊ CỦA PHÂN SỐ
 (viết chung với tonachombu, lấy tư liệu từ file Ông Ngoại, Bà Ngoại, Thư Viện Gia Đình và internet)
Hồi nhỏ, có lần tôi hỏi Ba: Trên đời, Ba thương ai nhất? Ba trầm ngâm: Ba thương Bà Nội nhất, vì Bà Nội đã nhường mọi quyền lợi tinh thần, vật chất cho sự thành đạt của Ông Nội, các Bác, các Cô, các Chú. Tôi hỏi gặng: Thế Mẹ là thứ mấy? Ba mỉm cười: Mẹ thứ nhì, chỉ sau Bà Nội thôi, và trầm ngâm: Nói riêng với con, Bà Nội còn thương Mẹ hơn thương Ba nữa, lần nào thấy Ba Mẹ tranh luận, Bà Nội cũng đều bênh Mẹ cả. Thế mà, mới năm trước thôi, tôi lại nghe Ba tâm sự với bạn bè: Trước đây, đối với tao, Mẹ là Nhất, Vợ thứ Nhì. Nhưng tới ngày tao nhập viện điều trị vết thương khó lành do tiểu đường, phải nằm một chỗ cạnh máy hút chân không, mới thấy thương Vợ: buổi sáng đút cháo cho Bà Gia (tức Bà Nội, bị tai biến, nằm một chỗ hơn 20 năm) ăn xong, chạy đến Khoa Nội Tiết đổ bô phân, nước tiểu cho tao, rồi mới quay về cơ quan làm việc. Giờ thì cả hai người có Giải Nhất đồng hạng rồi. Đến đám tang Bà Nội cách đây một năm (miền Bắc gọi là hồng tangvì Bà thọ đến 93 tuổi), Ba đã tuyên bố với cả nhà, với tư cách trưởng nam: Đừng quá quan trọng hóa việc tham gia Lễ Tang. Thể hiện chữ Hiếu là chăm sóc khi Bà còn sống, còn khi Bà đã nằm xuống, con cháu chỉ cần lo toan trong khả năng của mình.
Tôi học Công nghệ Thông Tin, hầu hết các kiến thức đều tiếp thu từ mạng internet. Tốt nghiệp đại học, tôi may mắn được tuyển vào một Công ty Công nghệ - Truyền thông ở Hà Nội. Tôi tự nhủ: Đời mình đã có một số điểm xuất phát thuận lợi, chỉ thiếu có Gấu (người yêu) nữa thôi. Dù không nói ra, tôi vẫn mơ tìm được một em Gấu, được mọi người thương quý như Mẹ tôi. Ông bà ta có câu: Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giốngtương tự dân Anh: Like father, like son, hay Like mother, like daughterMọi người bảo tôi giống tính Ba - tốt nhưng cục tính, kiên quyết nhưng chủ quan, vậy tôi cứ từ từ mà sửa dần tật xấu. Nghe nói, Ba tôi sau này có thuần tính lại cũng nhờ Mẹ tôi uốn nắn, chính Ba đã nói đùa: Cha mẹ có công sinh thành ra ta, Vợ có công nuôi dạy ta nên người. Trong thâm tâm, tôi muốn kiểm chứng nhận xét của Ba: Mẹ học Bà Ngoại, sống vì mọi người, làm việc gì cũng nghĩ thay người khác, trước khi nghĩ đến mình! Cụ thể, tôi tìm hiểu những chi tiết liên quan đến Bà Ngoại, người đã cùng Ông Ngoại sinh thành, nuôi dạy Mẹ...
Ông Ngoại mất năm tôi mới lên 6. Kỷ niệm về Ông Ngoại năm tôi lên 3, là một tháng theo Mẹ ra ở cùng Ông Bà, khi Mẹ đi tập huấn ở Hà Nội, và hồi 5 tuổi, có lần được ngủ trưa, nằm chung với Ông trong tầng 1 chiếc giường rộng 1m, khi Ba Mẹ bắt đầu ra ở riêng, tách khỏi nhà Nội. Ngoài ra, thỉnh thoảng tôi được tắm bùm trong khách sạn, khi Ông Bà vào thăm quê, nhắn cả nhà tôi lên thăm. Nhìn chung, Ông là người thành đạt trong xã hội, nổi tiếng trong ngành Văn hóa – Văn nghệ. Tôi khó kể hết gần ngàn bản nhạc của Ông đủ các thể loại, giai điệu, tiết tấu, họa chăng chỉ có Bà (thư ký không ăn lương của Ông) là nhớ đầy đủ. Đó là một trong những điểm nổi bật của Bà Ngoại, đối tượng mà tôi tìm hiểu tính cách qua những trang sách báo mạng, báo giấy, hoặc từ Thư viện gia đình.

oOo
Bà Ngoại tham gia kháng chiến sớm hơn Ông Ngoại (lúc mới 16 tuổi, trước Cách mạng Tháng Tám), làm giao liên, rồi thành lập Tiểu tổ Phụ nữ Cứu quốc, tham gia cướp Chính quyền. Bà làm Thường Vụ Phụ nữ Cứu quốc của làng Xuân Tường, rồi của huyện Thanh Chương. Được kết nạp Đảng năm 17 tuổi, chỉ 3 năm sau Bà tham gia Huyện Ủy. Năm 21 tuổi, Bà lập gia đình với Ông, bắt đầu cuộc sống nội tướng bên cạnh nhiệm vụ chính trị được xã hội phân công: Ủy viên Đảng Đoàn, Tỉnh hội Phụ nữ Nghệ An, đơn vị có trụ sở thường xuyên thay đổi do chiến tranh: Anh Sơn, Diễn Châu, Yên Thành... Cưới nhau mới được 3 hôm, Bà phải tiễn Ông đi công tác ở vùng địch hậu Khu 3, và tiếp tục công việc của Bà ở Huyện. Có lần đi công tác về gần đến nhà, Bà gặp người làng báo tin Ông mất, trái tim Bà như ngừng đập, may thay nguồn tin đó không đúng…
Sau Giải phóng Thủ đô (1955), Bà tham gia đoàn tiếp quản Hải Dương, Hải Phòng; Ông đang công tác địch hậu khu Tả ngạn sông Hồng, cùng về tiếp quản Hải Phòng. Từ đó, Ông và Bà bắt đầu bước vào cuộc sống gia đình và công việc mới. Bà được chuyển sang ngành giáo dục, học trung cấp sư phạm, rồi dạy cấp 2; Ông nhận nhiệm vụ ở Sở Văn hóa Hải Phòng. Rồi lần lượt Dì Cả, Cậu, Mẹ tôi và Dì Út ra đời trong cảnh hòa bình trên miền Bắc. Bà phải vừa hoàn thành công việc được giao, vừa chăm con nhỏ, vun vén gia đình. Lúc đó, tuy Ông bận rộn thường xuyên, nhưng việc có mặt bên nhau đã động viên tinh thần Bà rất nhiều. Trong những sáng tác của Ông, luôn thấy thấp thoáng hình bóng Bà, rõ ràng việc duy trì đời sống gia đình ổn định là chỗ dựa vững chắc để Ông yên tâm, hăng say công tác.
Trong điều kiện khó khăn thời đó, gia đình dù có nhiều nhân khẩu cũng chỉ được cấp nơi ở tạm là một phòng làm việc của Sở Văn hóa, bếp dùng chung. Đến khi sắp có con thứ 3 (tức Mẹ tôi, hồi đó chưa có chủ trương kế hoạch hóa gia đình), Ông mới được phân một phòng 32m2, ở tầng 2 của ngôi nhà trước là tư gia của Giám đốc Cảng (người Pháp). Thương con cháu, Bà Cố đã từ Nghệ An ra Hải Phòng đỡ đần công việc chăm sóc cháu cho Bà. Trách nhiệm nội tướng nặng nề hơn khi Mỹ đánh phá miền Bắc (1964), gia đình đi sơ tán ở An Lão, rồi theo trường của Bà về sơ tán ở Đông Sơn, Thủy Nguyên, cách Hải Phòng 10km. Bà phải tập cho Dì Cả và Mẹ tôi khiêng nước từ giếng chung (gần chân núi) về nấu ăn, vì nước giếng đào quanh nhà hơi chua, chỉ có thể dùng để giặt giũ. Ông công tác ở tận Vĩnh Bảo, cách Hải Phòng 40km, mỗi cuối tuần lại đạp xe về thăm gia đình ở nơi sơ tán. Đỉnh điểm của sự vất vả là khi Ông chuẩn bị đi B (1966): gánh nặng gia đình sẽ dồn hẳn lên vai Bà, và về mặt tinh thần, sự nhớ nhung, buồn khổ khó có ai cùng chia sẻ. Ngày xưa, bên sông Dịch, Kinh Kha đã hát Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn (Tráng sĩ một đi không trở về - Thời Xuân Thu, Kinh Kha nhận nhiệm vụ đi hành thích Tần Thủy Hoàng) khi từ biệt bạn là Cao Tiệm Ly; khi đó Ông vẫn lạc quan, động viên Bà yên tâm Đợi Anh Về - tên bài thơ của Xi Mô Nốp - qua Lời Người Ra Đi - bài hát về sau đã đưa nhiều ca sĩ lên đỉnh cao âm nhạc. Nhờ đó, Bà nén được nỗi buồn, động viên Ông lên đường, thực hiện nhiệm vụ mà Tổ quốc tin giao.
Thời chiến tranh, việc liên lạc bằng thư từ dễ bị gián đoạn, không chỉ vì đường quân bưu hay tắt nghẽn, mà còn vì địa chỉ các đơn vị thay đổi theo từng chiến dịch. Ở chiến trường, Ông rất mong thư của Bà, nhưng có lúc bặt tin mấy tháng liền (càng sốt ruột hơn khi máy bay Mỹ tăng cường đánh phá miền Bắc), rồi sau đó nhận liền gần chục lá thư theo kiểu no dồn, đói góp. Ngược lại, có lúc Bà lo lắng khi nghe tin Mỹ mở chiến dịch càn quét nơi đơn vị Ông đóng quân mà chẳng có tin của Ông, sau đó vỡ òa hạnh phúc khi nghe đài phát bài hát của Ông (dưới bút danh mới) viết sau chiến dịch. Những bức thư đầy yêu thương gửi cho nhau được Ông Bà nâng niu, gìn giữ, đến nay đã được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia cất giữ - được tổng hợp lại thành quyển Những Lá Thư Vượt Tuyến.
Năm 1971, phi cơ Mỹ lại đánh phá miền Bắc lần thứ hai, Bà Cố và 3 cháu phải sơ tán tận Hà Giang, khá xa nhưng đảm bảo an toàn, trong khi Dì Cả đi học ở Đông Triều (Trường dành cho học sinh miền Nam), Bà ở lại nội thành Hải Phòng công tác. Ngoài trách nhiệm hoàn thành công việc được giao, lòng Bà chia sẻ nhiều hướng, vừa ngóng tin Ông trong chiến trường, vừa nhớ mẹ, nhớ các con và lo gởi thêm lương thực, thực phẩm lên cho cả nhà.
Suốt 9 năm đi B, Ông Bà chỉ gặp nhau 2 lần: lần thứ nhất năm 1970, Ông được tranh thủ về thăm nhà nửa tháng sau khi ra Bắc điều trị sốt rét ác tính, rồi đi điều dưỡng ở Sochi (Liên Xô); lần thứ hai lúc Giải phóng Quảng Trị (1972), Bà tranh thủ cùng 3 con (Dì Cả đang học ở Đông Triều, không đi được) lặn lội tàu xe vào thăm Ông ở Đông Hà trong nửa tháng, nhân dịp các trường nghỉ hè. Dịp này, Bà mới được ra mắt bà con, họ hàng ở quê Ông, với cương vị cô dâu mới gặp, khi Ông Bà đã có 4 con, Dì Út khi đó đã lên 10. Sau lần đó, Ông Bà lại trở thành vợ chồng Ngâu đến sau ngày thống nhất đất nước, năm 1975, Ông tranh thủ thăm Bà khi ra Bắc công tác, kết hợp bàn phương án điều trị cho Bà Cố bị ung thư giai đoạn cuối, sau mấy năm hỗ trợ cho Bà chăm lo cho con cháu - Ông rất thương quý Bà Cố, vốn là Đảng ủy viên xã, phối hợp hoạt động với Ông trước khi Ông gặp Bà… Ba tháng sau ngày Thống nhất Đất nước, Bà phải thay Ông lo đám tang của Bà Cố, ra đi vì căn bệnh nan y. Vô cùng đau xót, nhưng Bà không muốn báo tin buồn cho Ông, sợ Ông phân tâm vì công việc ở vùng mới giải phóng đang ngập đầu…
Đến tháng 08/1976, sau chuyến vào Huế thăm Ông, xót xa thấy cảnh ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân dù Ông đã lập gia đình hơn phần tư thế kỷ, có với Bà tới 4 mặt con, Bà quyết định làm đơn xin chuyển từ Hải Phòng vào Huế, vẫn công tác trong ngành Giáo dục, để kết hợp làm Chủ nhiệm Hậu cần cho Ông. Vào Huế trước Bà, Mẹ tôi đã nộp đơn thi đại học, dì Út cũng chuyển vào học cấp 3, mấy năm sau dì Cả tốt nghiệp đại học cũng nhận công tác ở Huế. Riêng Cậu (con trai duy nhất của Ông Bà) đang đi học nước ngoài.
Đất nước đã hết chiến tranh, các nước anh em giảm dần mức viện trợ, nên nhân dân bắt đầu tự lực cánh sinh. Lúc đó mới thấy hết những vất vả, nặng nhọc của cuộc sống hàng ngày trên đất Huế nghèo khổ… Huế thơ, Huế mộng, Huế tộng bộng hai đầu! Xứ Huế nên thơ, trữ tình, nhưng có mức sống bình quân khá thấp so với các tỉnh khác ở miền Trung, nền công nghiệp hồi đó gần như không có gì. Ông Bà được cấp một căn nhà vách gỗ, lợp tôn, láng xi măng, vốn là nhà vợ hai của một đại úy quân đội Saigon, năm 1975 tạm trưng dụng làm nơi đổi tiền. Dù nhà chật, tiện nghi thiếu, nhưng tấm lòng của Ông Bà luôn rộng mở với các con cháu có nhu cầu học tập: các cháu gọi Ông bằng Ông, Bác, Chú, Cậu về ở quây quần trong nhà, cùng với Mẹ tôi theo các lớp đại học đủ ngành nghề. Với tiêu chuẩn khiêm tốn hạng C của Ông Bà thời bao cấp, và các tem phiếu hạng E của sinh viên đại học, Bà phải xoay xở đủ cách để chế biến lương thực, thực phẩm được cung cấp…
Tôi nghe Mẹ kể các sinh hoạt thời bao cấp, cứ ngỡ như chuyện tưởng tượng: đúng lịch Cửa hàng lương thực, thực phẩm bán hàng, Bà phân công người đi sớm xếp sổ chờ đến lượt mua, khi vào kho nhận hàng phải biết nói khéo với mậu dịch viên để được gạo mới, thịt tươi, rau sạch, tránh được gạo mốc, thịt ôi, rau bẩn… Đặc biệt, sau cơn lụt năm 1976 ở Huế, Cửa hàng Lương thực thông báo bán 3 sắn tươi thay 1 gạo, nhà nào cũng trở thành nơi bóc, ngâm, chế biến sắn (như muối dưa vỏ sắn), có lần mấy chị em say sắn nằm dài cả ngày… Khi Cửa hàng bán bo bo, Bà nhờ xay thành bột làm bánh mì, ăn với canh su su hay bầu, thu hoạch trên giàn ở góc vườn, mà Bà là nhà sinh vật học lo thụ phấn. Mỗi lần Bà xin được phiếu lấy trấu, mạt cưa (hồi đó tiêu chuẩn củi phân phối thường không đủ đun nấu), mấy chị em bịt kín mặt mũi vào kho tranh nhau để xúc, nén vô bao cho thật đầy, chở về nhà, phần thì lèn chặt vào lò nấu bếp cho đỡ tốn củi, phần thì sàng, giần lấy cám nấu cho lợn. Bà chỉ huy các cháu nuôi lợn và thỏ, khi đủ lớn thì đem bán lấy tiền để bổ sung thực phẩm hàng ngày. Trong khi một số nhà ở Huế vô cùng vất vả khi bị cắt nước, may thay, vườn nhà Ông Bà có nửa cái giếng (dùng chung với hàng xóm là tập thể Công An) nên đỡ được khoản ban ngày, cả nước lo việc nhà, ban đêm, cả nhà lo việc nước… Điện thì bữa có bữa không, các sinh viên tranh thủ học ban ngày, tối nào cúp điện thì phải ra nhờ ánh điện đường. Đã nghèo còn gặp cái eo, quần áo đang phơi có lúc bị khoèo mất, có người bị mất quần áo ngay khi còn ngâm trong chậu, chưa kịp giặt, có lần trộm cạy cửa vào nhà quơ hết quần áo… Bà làm công tác quản lý trong ngành Giáo dục, thỉnh thoảng phải đạp xe về cơ sở cách vài chục km, đường thì xấu mà lốp xe thường thuộc loại cố vấn - cách chơi chữ thời bao cấp – dùng xăm cao su cố gắng vấn lốp xe bị bung triên (ta lông), trong khi Cửa hàng Thương nghiệp cung cấp mỗi năm một bộ xăm lốp xe đạp cho 4-5 người, phải bốc thăm để chọn. Hồi ấy Bà gầy lắm, vừa bị bệnh đại tràng phải ăn kiêng cá tôm, thịt và gạo thì ít, ăn toàn độn, nhà lại đông người; lúc khám sức khỏe tổng quát, Bà chỉ được 36 kg… Cuộc sống thời ấy thiếu thốn, vất vả nhưng trong nhà Ông Bà vẫn luôn vang lên tiếng cười của lớp trẻ, của Ông, kéo được Bà Cô (chị Cả của Ông, sống cùng với Ông Bà sau khi cả nhà chuyển vào Huế) vốn là người giữ nếp phong kiến, kín đáo, đôi khi cũng buông nhiều câu nói đùa vui vẻ. Đang trong tuổi ăn, tuổi ngủ, các Dì, các Cậu cứ béo tròn ra, đến kỳ hạn tất cả đều hoàn thành khóa học. Trong ngôi nhà gỗ, con cháu lần lượt tổ chức liên hoan chè, khao bằng tốt nghiệp đại học, rồi tỏa đi khắp nước công tác, xa nhất là tận Thốt Nốt, Cần Thơ…
Đến 1983, Trung ương điều Ông ra công tác ở Thành ủy Hà Nội, sau chuyển sang Phụ trách ngành Thông tin. Ra thăm Ông, thấy cảnh ăn uống sơ sài vì không hợp khẩu vị, Bà xót ruột muốn chăm sóc Ông chu đáo hơn, nên xin chuyển theo Ông ra Hà Nội. Nhà của Ông Bà được trả lại cho Nhà Đất Thành phố Huế, gia đình dì Cả và Mẹ tôi chuyển về ở gác 5 chung cư Đống Đa theo đúng tiêu chuẩn, với đường cầu thang khá dốc, mang xe đạp lên xuống phải vác trên vai. Tôi nghe Ba kể chuyện: hồi đó, Ba là Bí thư Chi đoàn của Mẹ, cùng các đoàn viên khác hỗ trợ Mẹ chuyển nhà, hình như trong lần chuyển nhà đó, sau khi mang hết chổi cùn, rế rách… từ nhà cũ đi, đã mở được cánh cửa gỗ lim của trái tim Mẹ…
Ở Hà Nội, Bà tiếp tục công tác trong ngành Giáo dục, một năm sau thì về hưu, dành toàn tâm, toàn ý chăm sóc cho Ông. Bà bắt đầu công việc quản lý các sáng tác của Ông, thu lại trong băng cassette các bài hát do Ông sáng tác, sắp xếp lại thành các album theo chủ đề hoặc địa phương liên quan. Sau này, khi tổng hợp các sáng tác của Ông, mọi người đều công nhận công sức lớn lao của Bà khi sắp xếp, bảo quản, hệ thống lại đúng yêu cầu, ngay Ông đôi khi cũng phải hỏi lại Bà về những sáng tác trong quá khứ mấy mươi năm của mình. Giống như hồi ở Huế, gia đình Ông Bà lại là nơi tập trung học tập, chủ yếu của cháu gọi Bà bằng Bác, bằng Dì, từ Hải Phòng lên học Kiến Trúc, từ Vĩnh Phú về tập huấn bóng đá, hay chính Ba tôi đi học nghiên cứu sinh… Ông Bà rất tiết kiệm, sống giản dị, không quan cách, rất thống nhất khi tổ chức các sự kiện riêng của gia đình (rút kinh nghiệm từ nhiều đám cưới con các cấp lãnh đạo thời đó). Ông Bà (chủ yếu là Bà – phụ trách Tài chính Gia đình) tổ chức đám cưới cho dì Cả, cho Mẹ, cho dì Út thật đơn giản, không ồn ào, phô trương…
Năm 1981, Dì Cả lập gia đình với Anh Thợ Rèn (biệt danh hồi đó, thật ra Dượng là giảng viên trường Cao đẳng Nông nghiệp, sau này là Đại học Nông Lâm). Đám cưới tổ chức dưới trời mưa lụt, gia đình hai họ chỉ có vài người, dự tiệc trà, liên hoan ca hát cây nhà lá vườnÁo quần cô dâu, chú rễ là thứ có sẳn hay đi mượn. Con của Dì, cháu ngoại đích tôn của Ông Bà, chào đời năm 1982, được cả nhà cưng quý. Cái tài của Bà lúc đó là thu xếp nơi ăn ở cho cả đại gia đình, đặc biệt là tiểu gia đình Dì Cả có cháu nhỏ, trong căn nhà khá hạn chế về diện tích. Tiêu chuẩn bồi dưỡng cho Dì Cả chẳng có gì, chỉ là sắn cõng cơm, hoặc bo bo, sang lắm là bột mì cán sợi. Đến khi mì - phương ngữ của miền Nam, có nghĩa là (củ) sắn - chất đầy nhà, Vấn đề bồi dưỡng lại là cơm không! Do đó, con Dì Cả rất gầy, Ông đã gọi trại tên chị Sông Hương thành Xương Hôngvì bế cháu toàn sờ thấy xương…
Lễ cưới Ba Mẹ được tổ chức năm 1987 (sau Lễ Hỏi đơn giản ở Hà Nội với ít thuốc lá, hạt sen), đón dâu từ gác 5 chung cư Đống Đa bằng một xe 12 chỗ về gia đình nhà trai ở Huế (lúc đó, Ông đi công tác ở nước ngoài), khách mời của Ông Bà chỉ có bà con, họ hàng, các cơ quan chỉ nhận thiệp báo hỉ. Sau đám cưới, Ba ra tạm trú ở nhà Ông Bà để học nghiên cứu sinh, Ba Mẹ được Ông Bà dành cho một căn phòng 10m2, quá lý tưởng so với cuộc sống ở Hà Nội thời đó. Cuộc sống đầy khó khăn, mấy tháng gần ngày sinh, Mẹ được bồi dưỡng riêng 1 quả trứng vịt lộn -  - mỗi ngày. Đầu năm 1989 sinh anh C. gần 4kg, từ đó trong đại gia đình, trứng vịt lộn trở thành tiêu chuẩn thí điểm bồi dưỡng cho bà bầu. Anh C. được Ông gọi trại là ArơChôm (Artiom Cortsagil, anh ruột nhân vật chính trong tiểu thuyết Thép đã tôi thế đấy), dù tên C. có nguồn gốc là Chôm Chôm, trái cây đặc trưng miền Nam quê nội. Hồi nhỏ anh C. rất hợp sữa Similac, năm đầu tiên cứ mỗi tháng lại tăng đều đặn 1 kg, nên có biệt danh Similac. Có lần Ông đi công tác ở Liên Xô, hỏi Bà muốn mua gì thì Bà trả lời đơn giản: ưu tiên một thùng Similac cho cháu, mà chẳng yêu cầu gì cho riêng mình! Anh C. sống trong nhà Ông Bà đến 6 tuổi rồi theo Mẹ vào Huế với Ba, con đầu, dâu trưởng của họ Nội mà…
Đám cưới của Dì Út tổ chức ở Hà Nội rất đặc biệt, đầy bất ngờ. Năm 1990, Ông Bà mời bạn bè, thân hữu đến với lý do dự Lễ Kỷ niệm 40 năm ngày cưới, địa điểm phải nhờ nhà ông Duyên trong làng Trung Tự, vì căn hộ đôi 48m2 được phân không đủ chỗ tiếp khách. Mọi người gặp mặt, sinh hoạt, ca hát vui vẻ suốt cả ngày. Đến cuối buổi, Ông Bà mới tuyên bố: hôm nay, chúng tôi tổ chức cho cháu Út ra riêng, mọi người mới vỡ lẽ. Thắm thoát đã gần 30 năm, Dì Út đến nay đã lên chức bà nội rồi…
Năm 1992, cả nhà Dì Cả chuyển ra Hà Nội, Ông Bà được phân về nhà N3, khu 222A Đội Cấn. Năm 2000, chuẩn bị chuyển nhà sang khu Vạn Bảo (nơi ở hiện nay), Bà đau ruột thừa, khi nhập bệnh viện Việt Xô điều trị mới phát hiện khối u ở đại tràng. Bà đồng ý khi bác sĩ đề nghị mổ chẩn đoán và tự ký vào đơn cam đoan, sau đó Ông và các Dì mới biết để vào chăm sóc. Mẹ cấp tốc xin nghỉ phép ra Hà Nội, kết hợp với dì Cả, dì Út thay phiên chăm sóc Bà, tôi mới 3 tuổi, tất nhiên phải bám theo Mẹ. Hôm Mẹ trực với Bà, tôi cứ tha thẩn theo mọi người đi lại giữa nhà cũ, nhà mới cách nhau hơn trăm mét, rồi bị lạc, ngồi khóc ở vệ đường, may có người cho vào nhà, mấy tiếng sau Mẹ mới tìm ra tôi đang nằm ngủ khoèo… Một tuần sau, Ông gọi điện cho Ba tôi, tâm sự: Bệnh viện K đọc sinh thiết của Mẹ là u ác tính rồi. Mình sẽ điều trị tích cực, nhưng Ba muốn Mẹ thoải mái tinh thần, về đến nhà là đã chuyển xong về nơi ở mới. Con ra Hà Nội, chỉ huy việc dọn nhà! Tài chính Ba lo cả. Ba xin nghỉ làm đề tuyển sinh ở Đại học Y Dược, cấp tốc ra Hà Nội, điều động một nhóm em họ của Mẹ và ông anh đồng hao - (anh) rể cùng một nhà; phương ngữ miền Nam là (anh) cọc chèo - tức là chồng Dì Cả, biết tháo lắp đồ mộc như thợ chuyên nghiệp… Đến khi hoàn thành, gần như chẳng tốn kém gì, Ông cho khui chai rượu Mai Quế Lộ thơm phức, mua chục lít bia hơi để khao quân: đã hoàn thành nhiệm vụ gia đình đầu tiên do Ông làm Tổng Chỉ huy, khi Bà đang điều trị trên giường bệnh… Cuối cùng, với sự tích cực điều trị của Viện K, Bà đã chạy đủ 6 đợt hóa chất, ăn kiêng đúng chế độ quy định, sau gần 20 năm chiến đấu kiên cường, cuối cùng con ma Ung Thư phải chịu thua Bà, lắc đầu bỏ đi…
oOo
Sách vở thường nói: Đằng sau người đàn ông thành đạt, bao giờ cũng có bóng dáng người phụ nữ. Trường hợp Ông Bà Ngoại là một minh chứng cụ thể. Mọi nhiệm vụ phức tạp (như Phó đoàn Tuyên truyền kháng chiến Trung Bộ và khu IV, Thường vụ phụ trách địch hậu Khu III, chiến dịch Hòa Bình, Tả ngạn Sông Hồng trong kháng chiến chống Pháp, đến Lãnh đạo Sở Văn hóa Hải Phòng, rồi trong chiến trường chống Mỹ, đến các chức vụ cấp Trung  ương được giao sau này) được Ông Ngoại hoàn thành với hiệu suất cao, bằng lòng nhiệt tình sôi nổi và khả năng uyên bác… Một yếu tố không thể quên nhắc đến là sự động viên tích cực của Bà Ngoại, đúng với châm ngôn hậu phương vững chắc cho tiền tuyến mạnh mẽ…
Năm 2003, Bà phải chịu cái tang lớn nhất đời, khi Ông ra đi ở tuổi 75. Với tiền sử là những cơn cao huyết áp đột xuất, lại phải đặt 2 stent ở vị trí tắc của động mạch vành, Ông tiếp tục điều trị bệnh bằng thuốc nội khoa. Tuy bác sĩ chỉ định Ông phải hạn chế làm việc căng thẳng, nhưng Ông chỉ có thể chấp hành ở mức độ tương đối. Ông xin từ chối nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Lễ Khai mạc Sea Games 22 (và ParaGames), Ban Tổ chức không đồng ý, thuyết phục Ông nhận để khỏi ảnh hưởng tinh thần đạo diễn và biên đạo múa… Sau mấy ngày làm việc căng thẳng, sáng thứ bảy 15/11, đang đi bộ thể dục với Bà, ông thấy chóng mặt. Đưa vào bệnh viện Saint Paul rồi chuyển sang Việt Xô, ông chỉ hồi tỉnh được hơn 1 ngày rồi sức khỏe bắt đầu suy giảm. Bệnh viện cố gắng giữ đến 5 giờ sáng chủ nhật 23/11/2003, khi các con cháu đã tập trung về đông đủ, bác sĩ cho rút ống thở oxy… Vô cùng đau đớn, tim Bà đau nhói như muốn ngừng đập, nhưng Bà cố gắng tỉnh táo để thực hiện các nghi thức của Lễ Tang. Đặc biệt, Bà đích thân lựa chọn những bài hát đặc trưng, ưa ý nhất của Ông hồi còn sống, để làm nhạc đệm trong Nhà Tang Lễ Bộ Quốc Phòng trong buổi sáng 27/11, thay bài Hồn Tử Sĩ như với các đám tang khác.
Mọi người tưởng rằng khi Ông mất, Bà đã chịu nỗi đau lớn nhất của đời mình, nhưng Bà gắn niềm yêu thương, nỗi đau đớn vì mất Ông vào chính công việc sắp xếp lại các bản nhạc, chọn lọc bài hát đã thu âm cũ, in được 2 album nhạc của Ông, tự đánh máy viết sách kể về kỷ niệm tình yêu của hai người và Hồi ký của bà... Năm 2016, Bà bị ngã, phải thay khớp gối, đến hậu phẫu, Bà chủ động tập đi, không phiền đến con cháu… Bà vẫn tự làm mọi công việc cá nhân, âm thầm lên kế hoạch cho những việc của gia đình sau khi Bà đi gặp Ông. Các con cháu đều trông mong Bà luôn mạnh khỏe, sống thượng thọ để an hưởng tuổi già.
Đến tuổi 88, Bà lại phải chịu tiếp nỗi đau thứ hai. Tết Kỷ Dậu 2017, cậu P. con trai duy nhất của Ông Bà, đưa vợ con từ Hungaria về thăm Bà mấy tuần, ăn Tết Nguyên Đán ở Việt Năm. Trở lại Hungaria chưa được 1 tuần, Cậu bị đột quỵ và mất trên đường chở đến bệnh viện. Tin dữ đến như sét đánh ngang tai, các Dì thống nhất dấu Bà, thu xếp sang đón tro cốt Cậu về, làm Lễ Tang và tẩn liệm ở tỉnh Hòa Bình, trong khi cho Bà nhập viện điều trị ở bệnh viện Việt Xô. Mọi người định từ từ sẽ báo cho Bà hay... thì tình cờ, Bà dọn dẹp phòng, phát hiện trong một cặp giấy, bài viết Lời Truy Điệu, đã đọc trong Lễ Tang của Cậu! Sau mấy tiếng đồng hồ gọi cấp cứu, Bà vuốt ngực để tránh quá xúc động vì tin dữ và vì thương các con, các cháu còn đang sống. Bà dần dần hồi phục và lặng lẽ tính ngay đến chuyện chăm sóc hai con của Cậu, con út chưa đến 20… Chính điều này làm tôi khâm phục Bà vô cùng: Bà đã cố nén nỗi đau mất đứa con trai duy nhất, vừa mới chia tay hai tháng trước, để lo cho tương lai các cháu nội…
Tôi hỏi Mẹ một thắc mắc ngoài lề: Mẹ ơi, Ông là nghệ sĩ., nghệ sĩ thường đa tình lắm! Chính ban đầu, Bà cũng từ chối lời cầu hôn của Ông, vì Ông là nghệ sĩ. Vậy suốt hơn 50 năm sống chung, có khi nào xuất hiện hình bóng thứ ba không? Thật choáng với câu trả lời của Mẹ: Có, con ạ! Nhưng buồn cười lắm, mọi chuyện xuất phát từ Bà mới lạ. Hồi năm 2000, Bà bị ung thư đại tràng, tưởng không qua khỏi. Bà lẩn thẩn tính toán: nếu không có Bà, ai sẽ sớm hôm chăm sóc cho Ông, vì các con còn phải lo toan cho gia đình riêng. Cuối cùng, Bà nhắm đến cô Z. trong cơ quan của Ông, đặt vấn đề với các Dì: nếu Bà ra đi trước, Cô Z. sẽ thay Bà chăm sóc Ông… Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên! Cuối cùng, Ông lại ra đi trước Bà…
Mẹ tôi cho là chuyện buồn cười, nhưng tôi nghĩ khác. Theo logic, với một người luôn suy tính công việc thay cho người khác, quên cả chính mình như Bà, suy nghĩ như trên là hoàn toàn khả thi. Tôi nhớ lại câu nhận định của Lev Tolstoy (Nga): Giá trị con người là một phân số: tử số là cái mình có, mẫu số là cái mình tưởng mình có… Bà ơi, Bà luôn nghĩ Bà chỉ là số không, vậy giá trị của Bà tiến đến vô cùng!
viết nhân ngày Thượng Thọ của Bà Ngoại

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Truyện ngắn 20

<script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"
     crossorigin="anonymous"></script>


PHÍA SAU NHỮNG LỜI NÓI DỐI
Như Quỳnh, Trưởng phòng Kế toán:
Từ thuở nhỏ, tôi đã được gia đình, nhà trường dạy dỗ về lòng thành thật.
Tôi đã đọc, nhớ như in Ông đồ Bể của Khái Hưng, truyện ngắn thứ nhất ở bộ Sách Hồng của Tự Lực Văn đoàn dành cho thiếu nhi. Tôi tự hứa cố gắng sống thành thật như ông đồ Bể, dù tôi biết đó chỉ là nhân vật tưởng tượng của Trần Khánh Giư. Ông đã chứng tỏ một tư cách quang minh chính đại, từ việc không bẻ mía bên đường để ăn khi đang khát, đến việc không đút lót, lễ lạc quan viên để thi đỗ, và không nhận phẩm vật vua ban, khi biết mình thi đỗ trạng nguyên nhờ thần linh can thiệp…
Tôi cũng tâm đắc mẩu chuyện Tuyển Nhân Viên đọc trên báo. Với câu thứ nhất: Ở cơ quan chúng tôi, tiêu chí thứ nhất là sự sạch sẽ. Anh/Chị đã chùi sạch giày vào tấm thảm để ngoài hành lang chưa? Ứng viên giật mình: Thưa, chùi rồi ạ. Câu tiếp theo là phán quyết: Tiêu chí thứ hai là sự thành thật. Anh/Chị bị loại: ngoài hành lang không có tấm thảm chùi chân nào cả…
Tốt nghiệp đại học Tài chính, tôi nhận công tác Kế toán Vật tư, vài năm sau là Kế toán Tổng hợp, kiêm Trưởng phòng Kế toán một trường đại học ở Huế. Công việc chuyên môn giúp tôi hoàn chỉnh sự chính xác, chỉn chu trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày. Lâu dần thành thói quen, khi có sai sót, tôi sẳn sàng nhận lỗi để sửa chữa lại, chứ càng né tránh, hậu quả càng nặng nề hơn.
Tháng 4, năm 1979…
Thế mà anh chàng Quân lại dẫn dắt tôi vào con đường dối trá. Tôi nhớ rõ mồn một buổi gặp anh đầu tiên, qua điện thoại.
Theo Quân kể lại (đường dây quân đội thường bị nhiễu sóng, tôi phải vận dụng hết thính lực mới nghe rõ), Quân và anh Chiến (chồng của Linh Chi, bạn thân của tôi, đang là Quản thủ Thư viện trong Trường) đều là lính Trinh sát của Tiểu đoàn, thuộc F286. Sau mấy lời tự giới thiệu, Quân hỏi thăm mọi người trong nhà anh Chiến (anh Chiến là độc đinh, ba anh đã mất từ lâu). Trước hết là bệnh tình của mẹ anh Chiến (đang được tiếp tục điều trị tại nhà để phục hồi, sau tai biến do huyết áp), rồi đến sức khỏe của Linh Chi (đang mang thai tháng thứ ba, tiến triển và tiên lượng tốt).
Vui miệng, tôi định nhắc lại chuyện Chiến tranh thủ tạt về nhà nửa tiếng đồng hồ mấy tháng trước (và tạo ra sản phẩm). Lũ bạn gái chúng tôi tếu táo bịa chuyện: anh Chiến vội vàng quên cả tháo ba lô, nên ban đầu Linh Chi cứ thắc mắc mới mấy tháng ăn cơm lính mà sao anh lên cân quá! Sau đó, tôi chợt nhớ ra, ở đầu dây bên kia chỉ là người mới quen thôi, nên lặng im, cố nhịn.
Lại nghe giọng ngập ngừng của Quân, tôi phải lắng tai mới nghe rõ: Cách đây hai tuần, Mặt trận 479 đang mùa chiến dịch, Tổ tam tam của Chiến bị một quả B41. Chiến bị thương nặng, nhập viện điều trị mấy tuần rồi hy sinh… Tôi thảng thốt: Anh Chiến mất rồi à? Sao không thấy đơn vị ở Kampuchia báo về gia đình? Có đem xác về nước được không? Quân chậm rãi: Chiến tranh mà. Chúng tôi phải tạm chôn anh ấy ở Kompong Cham, nhờ dân địa phương đó hương khói. Có điều kiện, đơn vị sẽ tổ chức đưa xác anh và những liệt sĩ khác về.
Tôi ngậm ngùi: Tội nghiệp cho anh ấy. Không biết khi hay tin dữ, mẹ anh ấy có chịu đựng được không… Quân nhỏ giọng: Biết mình khó qua khỏi, anh ấy rất lo ảnh hưởng đến sức khỏe của Mẹ, nên dặn tôi nhờ chị báo riêng cho chị Chi thôi. Tôi ngắt lời: Chẳng lẽ tụi em dấu Mẹ anh ấy suốt đời à? Quân trầm ngâm: Cụ đang mong ngày chào đời của cháu nội, hy vọng cháu sẽ làm Cụ khuây khỏa. Trong mấy tuần cuối đời, anh Chiến viết liền sáu lá thư cho gia đình, nhờ tôi mỗi tháng gởi về gia đình một lá, mong sao giữ Cụ được đến ngày cháu chào đời. Anh Chiến đã tính, khoảng sáu tháng nữa là chị Chi sinh cháu...
Suy đi tính lại, không biết làm gì hơn để giữ sức khỏe cho mẹ anh Chiến, tôi nghĩ chắc phải nghe theo lời của anh Quân.
Giọng Quân ngần ngừ: Khi nào tôi về phép, sẽ ghé ngang Huế, mang quân tư trang của anh Chiến về trao lại cho chị Chi. Nhờ chị làm công tác tư tưởng cho chị Chi trước… Tôi gật đầu, dù qua điện thoại, Quân không thấy cái gật đầu của tôi: Em sẽ cố trấn an và thuyết phục Linh Chi bình tĩnh, lo chu toàn cho cháu. Anh nhớ tuyệt đối giữ không để mẹ anh Chiến biết nhé.
Vô hình chung, tôi nhớ lại công chúa Liên Hương, vợ nhân vật truyền thuyết Ông đồ Bể, khi chứng tỏ tính thành thật với vua cha: Trong đời con, một đôi khi con cũng nói dối, nhưng là những câu nói dối vô hại, hoặc vì phép xã giao, hoặc vì lòng nhân đạo, để bào chữa hành động dối trá của tôi.
***
Tháng 10, năm 1980…
Hôm nay là ngày Lễ Thôi Nôi của con trai anh Chiến và Linh Chi.
Tôi ngắm mẹ anh Chiến đang bế cháu nội bằng tay trái, ru cháu Thắng bằng giọng hơi ngọng nghịu. Thật khó tin rằng, bà đã vượt qua đợt tai biến mạch máu não năm trước. Tuy tay phải của bà có phần lóng ngóng, nhưng thần thái bà luôn luôn vui vẻ, phấn khởi. Giọng nói, nụ cười của bà tuy hơi méo mó, nhưng vẫn nở thường xuyên trên môi. Cháu Thắng nhờ đã quen mặt, quen hơi bà nội từ lúc mới sinh, nên không lấy làm lạ, chịu để cho bà bế ẵm.
…Tôi không còn mặc cảm dối trá như những tháng đầu, sau khi liên lạc với anh Quân nữa. Đến hẹn lại lên, khoảng tuần đầu mỗi tháng, tôi đến Phòng Văn thư của Trường, nhận phong bì thư dán tem quân đội, do anh Chiến viết trước khi mất (và anh Quân tuần tự gởi về), mang đến Thư viện trao lại cho Linh Chi, để đọc cho mẹ anh Chiến nghe.
Sau cơn sốc tinh thần, ban đầu khóc lóc, vật vã khi biết tin Chiến hy sinh, Linh Chi đã bình tĩnh lại dần, lau nước mắt để tập trung trước là lo cho cháu, sau là lo cho Bà Nội, theo lời khuyên của mọi người. Nhiều lần nhìn Linh Chi chăm chú đọc những lá thư với những nét chữ chân phương quen thuộc của anh Chiến, lòng tôi lại nao nao xúc cảm. Tôi thương hình ảnh anh bộ đội đang xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, quý gia đình đang xây dựng hậu phương vững chắc để ổn định tinh thần người lính nơi tiền tuyến, và đặc biệt trân trọng những người chấp nhận âm thầm chịu nỗi đau để trấn an tinh thần người thân, như Linh Chi bạn tôi. Hồi còn đi học, Linh Chi và tôi thường nói đùa: sau này chỉ lấy chồng là bộ đội, hoặc bộ đội chuyển ngành, và giải thích tếu táo: vì đã quen với tác phong thi hành trước, khiếu nại sau
Nội dung những lá thư của anh Chiến viết trước khi mất không đúc khuôn như một. Theo ngày tháng gởi đi, anh hư cấu những diễn tiến thay đổi theo thời gian, đúng tính cách sâu sát của anh. Có lần, Chi tâm sự với tôi, thư anh Chiến gởi về, có kể với mẹ: anh bị sốt rét nặng, tưởng không qua khỏi, may nhờ chính anh Quân đưa đi viện, rồi lại hiến 2 đơn vị máu để cấp cứu cho anh ấy. Tôi ngầm hiểu, trong những ngày cuối đời, anh Chiến đã có kế hoạch định hình dần cho mẹ mình sự mất mát, để mẹ không quá đau thương khi biết tin con trai mình hy sinh. Ngoài ra, những lời khen ngợi, tri ân của anh Chiến đối với anh Quân, dù chỉ thoáng qua trong thư, cũng cho tôi thấy mục đích của anh, muốn cho hình bóng anh Quân xuất hiện dần trong gia đình mình, nhất là với mẹ mình và vợ mình.
Phụ nữ có linh cảm nhạy bén trước những biểu hiện khác thường của nam giới.
Sau khi nắm được nội dung các lá thư anh Chiến đã viết (và anh Quân gởi về), tôi hiểu rằng kế hoạch điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa… đã được anh Chiến (và cả anh Quân nữa) xây dựng và đang thực hiện. Tự nhiên tôi thấy chạnh lòng khi chợt nhận ra hình bóng anh Quân đang choáng ngợp trong tâm trí tôi, dù tôi chỉ mới nói chuyện với anh qua điện thoại, chỉ biết thêm một ít thông tin qua những lá thư của anh Chiến. Vậy mà, buồn cười chưa, tim tôi lại đập rộn ràng, khi thấy Linh Chi chỉ tỏ thái độ thản nhiên khi nhắc đến anh Quân, như nhắc đến những đồng đội thân thiết khác của chồng. Tuy nhiên, trước đôi mắt sắc như dao của Linh Chi, tôi lại phải thản nhiên như không quan tâm gì đến anh Quân.
Trong lúc tôi xoay xở làm thủ tục xin ứng trước mấy tháng lương chuẩn bị cho Linh Chi sinh (thu nhập gia đình dựa chủ yếu vào lương công chức của Linh Chi, lương hưu của mẹ anh Chiến), thì Linh Chi nhận được ngân phiếu chuyển tiền tới mấy triệu đồng. Ban đầu tôi nghĩ, bộ đội như anh Chiến làm gì có tiền tử tuất cao như thế, thì thư kèm theo của anh Quân đã giải thích rõ. Đơn vị đã xét trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt sĩ, cộng với nguồn ủng hộ từ các anh em trong đơn vị. Thôi thì được đồng nào quý đống đó, tôi hiểu cuộc sống ở biên giới Tây Nam nhiều khó khăn, khoản tiền này đã thể hiện tấm lòng quý báu của đồng đội rồi.
Rồi đến ngày cháu Thắng chào đời. Tháng trước đó, Linh Chi đã về quê, nhờ đứa cháu gái lên chăm sóc cho mẹ chồng, để chủ động lo việc sinh nở. Rất may, mọi việc đều thuận lợi, không chỉ nhờ mẹ cháu thuộc dạng thắt đáy lưng ong nên sinh nở dễ dàng, cháu Thắng lại là con bộ đội biên giới, nên khắp nơi, từ cơ quan đến bệnh viện, đều tạo mọi điều kiện thuận lợi.
Đặc biệt, khi nghe được tiếng khóc chào đời của cháu nội, mẹ anh Chiến như trẻ ra đến chục tuổi. Tôi cảm nhận ngay thành quả của vở kịch mà tôi tham gia, và tôi tin tưởng rằng vong linh anh Chiến (nếu có) cũng toại nguyện. Mẹ anh Chiến thường xuyên giành quyền chăm sóc cháu nội, bà bảo con trai đi xa thì đã có cháu nội thay, mẹ nhìn cu Thắng cũng như thấy Chiến rồi…
Trước sau, mẹ anh Chiến vẫn chưa biết gì về tin tức của con. Tôi cũng mong vở kịch này kéo dài mãi, vì mẹ già như chuối chín cây, hiện tại thì như vậy nhưng nếu nghe tin con trai duy nhất không còn, chưa biết phản ứng của mẹ ra sao? Tôi dặn Linh Chi, đóng thùng thư riêng có khóa của gia đình trước cổng nhà, phòng khi giấy báo tử anh Chiến được gởi trực tiếp về nhà…
Buỗi Lễ Thôi Nôi của cu Thắng kết thúc trong tiếng cười vui vẻ của mọi người. Theo phong tục địa phương, gia đình đưa một loạt đồ dùng bằng nhựa cho cháu chọn, cu Thắng đã vồ ngay lấy ống seringue nhựa (dĩ nhiên, không gắn kim) và giữ rịt không rời. Bà Nội vui vẻ: lớn lên cháu sẽ làm bác sĩ, chăm sóc sức khỏe cho cả nhà nhé. Rồi bà ước ao: đợi Ba cháu về, cho cháu một em gái nữa thì tuyệt! Cả nhà cười ồ, nhưng rõ ràng tiếng cười của Linh Chi và tôi đều có nét gượng gạo.
Cuối buổi, Linh Chi kéo tôi ra ngoài, nói nhỏ: Theo kế hoach, tháng sau anh Quân sẽ mang quân tư trang của anh Chiến về giao cho gia đình. Anh chỉ ghé Huế một buổi rồi về quê. Tao hẹn gặp anh ấy sáng chủ nhật đầu tháng, ở quán cà phê Mimosa, mày đi với tao nhé! Tôi xao xuyến trong lòng, vờ ngẩn ngơ: Chuyện gia đình mày thì kéo tao vào làm gì? Linh Chi nghiêm nghị: Việc cần thì tao mới nhờ mày. Mày đi với tư cách bạn, và với tư cách quân sư nữa. Tôi gật đầu, hỏi: Mà mày định nói chuyện gì? Linh Chi nhỏ giọng: Tới khi đó mày sẽ biết. Tao cần nắm một số thông tin rồi mới quyết định. Nhớ thu xếp đi với tao nhé.
Tôi mỉm cười, ít nhất mình cũng gặp trực tiếp anh Quân đã mọi thứ tính sau. Tự nhiên tôi thấy lo lo. Anh Chiến và Linh Chi có tên cùng âm CHI, thì bây giờ anh không còn nữa! Anh Quân và tôi (Quỳnh) có tên cùng âm QU, liệu có rủi ro gì không?
***
Minh Quân, Trung đội trưởng Trinh sát:
Tháng 3, năm 1979…
Tội nghiệp thằng Chiến bạn tôi. Khuôn mặt đẹp trai như tài tử điện ảnh (đẹp hào hùng như tài tử Trung Quốc, chứ không ẻo lả như tài tử Hàn Quốc đâu) không còn nữa. Trong đợt chống cường tập cuối chiến dịch, để Tổ Cứu thương đưa thương binh rút ra hậu cứ, Tổ tam tam của Chiến nhận ở lại giữ chốt, đã lãnh trọn mấy quả B41. Khi chúng tôi cùng thê đội bổ sung quay lại cứu viện, hai đồng đội của Chiến đã hy sinh, còn Chiến, thân xác tả tơi như cái mền rách. Lửa B41 đốt chảy bỏng gần hết khuôn mặt của Chiến, mắt phải đã hỏng hoàn toàn, mắt trái chỉ còn thấy lờ mờ. Cánh tay trái của Chiến bị cối 82 dập nát, xương thịt bắn tung tóe khắp nơi. Vất vả lắm, chúng tôi mới đưa Chiến về đến trạm phẫu thuật tiền phương để cứu chữa. Hai tuần nằm viện, nhiều khi tưởng Chiến không qua khỏi, nhưng thật kỳ lạ, Chiến vẫn mở được mắt sau những ca phẫu thuật hàng chục tiếng đồng hồ. Khi nghe câu nói đùa của Chiến: cái số tao sống dai lắm, Quân ạ… tôi biết hắn vẫn sống nhăn, như hồi nhỏ, cùng chăn trâu, đi học, nhập ngũ với tôi. Tôi an ủi Chiến: còn giữ được cái gáo về với Bọ Mạ là tốt rồi, à với em Chi nữa chứ! Hắn cười méo mó.
Ngày trước, Chi đã chọn Chiến giữa hai chúng tôi, không phải vì hắn đẹp trai hơn, mà vì cái gì khác, chúng tôi không rõ. Hắn đòi tôi đưa gương soi cho hắn ngắm dung nhan mùa hạ của mình, rồi ngăn tôi khi định viết thư về nhà, báo tin Chiến còn sống… Chiến nhếch mép: Bây giờ tao đẹp trai như thằng Quasimodo thế này, mày định tập cho Chi làm Esremalda hả? Tôi gượng gạo: ­Thì Chi vẫn là vợ của mày mà! Chiến gằn giọng: Ngày trước Chi là vợ, còn ngày nay tao là cục nợ, mày biết không? Làm sao con người xinh tươi, đẹp đẽ như Chi lại có thằng chồng có hình thức ma chê, quỷ hờn như tao được? Tôi im lặng.
Chiến xuống giọng: Mày có còn là bạn của tao không, Quân? Tôi cười: Có khi nào tao chẳng là bạn mày đâu. Chiến ngậm ngùi: Vậy thì tốt. Mày nghe tao đây. Xem như đối với gia đình, đối với Linh Chi, tao đã chết rồi! Tao chỉ ngại, tin tao chết sẽ làm ảnh hưởng đến bệnh tình mẹ tao, tháng trước bà mới nhập viện điều trị tai biến do huyết áp cao. Chi đã có thai sang tháng thứ tư, nhưng tao tin Chi sẽ đủ nghị lực để vượt qua, vì đứa con sau này. Bây giờ, mày gọi điện về cho Quỳnh, bạn cùng cơ quan của Chi, báo tin tao đã mất, nhưng dặn Quỳnh từ từ rồi báo cho Chi hay. Với mẹ tao, chắc khó đón nhận hung tin này. Tao chỉ mong sao Cụ sống đến ngày Chi sinh, hy vọng cháu nội sẽ làm nguồn động viên cho Cụ vượt qua nỗi đau. Mày nói với Quỳnh, mỗi tháng sẽ có một lá thư tao đã viết sẳn, nhờ mày gởi về Quỳnh chuyển cho gia đình, cho tới ngày con tao chào đời…
Tôi chớp mắt: Vậy ai sẽ lo cho Nhi và con sau này? Chiến cười: Tao muốn mày là bạn vì vậy. Tao sẽ xin ở lại mãi trong quân đội. Lương, phụ cấp khu vực, phụ cấp thương binh của tao sẽ gởi về cho Chi và con, mày chỉ tìm cách giải thích hợp lý. Tao tính rồi, những lá thư của tao sẽ đưa hình ảnh mày dần dần vào gia đình tao, và cuối cùng mày sẽ thay thế tao, đối với Chi và con, thậm chí cả mẹ tao nữa.
Tôi ngần ngừ: Liệu Chi có chấp nhận không? Chiến nhún vai: Tao xác định rồi. Tao đâu muốn Chi hy sinh tuổi xuân để thờ chồng, nuôi con suốt đời. Để thay thế tao, mày là thằng phù hợp nhất. Thương tao, mày sẽ lo cho con tao, như chính con mày. Với Chi, ngày trước, mày cũng thích Chi phải không? Tôi lúng túng: Tao cũng không biết nữa. Chiến ngậm ngùi: Cứ xem như tao đã chết rồi, tao nhờ mày gánh giúp món nợ trần ai cho tao vậy…
Mọi việc tiến hành đúng như chúng tôi dự định. Tôi đã gởi sáu lá thư của Chiến viết (bằng tay phải còn lại) về cho gia đình, đến ngày sinh cu Thắng (mọi thông tin đều biết qua Quỳnh, vì trên lý thuyết, Chiến đã mất, có ai để nhận thư gia đình đâu?). Gộp lương, phụ cấp thương tật và phụ cấp khu vực trong mấy tháng của Chiến được một khoản tương đối, anh em đơn vị ủng hộ ít nhiều, tôi mạnh dạn gởi ngân phiếu về cho Linh Chi, để chuẩn bị cho ngày cu Thắng chào đời. Sau đó, Chiến không viết nữa, vì khi đó cu Thắng đã chào đời, hy vọng Bà Nội đã ổn định…
Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa hết. Tôi còn nhớ lời hứa mang sẽ quân tư trang của liệt sĩ Trần Quyết Chiến về cho gia đình, dự định sẽ tìm cách nói quanh co, đổ lỗi cho các thủ tục hành chính phức tạp quá, nên chưa mang giấy chứng nhận liệt sĩ về được.
Tuy nhiên, tôi linh cảm mình khó lọt vào được gia đình Linh Chi như đã dự tính với Chiến, vì trước sau, đối với Linh Chi, tôi chỉ là cái bóng mờ. Những điều Chiến kể trong thư quá mờ nhạt để thuyết phục con người sâu sắc như Linh Chi. Thôi thì, một liều, ba bảy cũng liều, cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây. Tôi gói ghém hai bộ quân phục của Chiến, bộ đồ dành cho chiều cao 180cm, chắc chắn mọi người nhận ra. Một quyển sổ tay có nét chữ của Chiến, hai tấm ảnh của mẹ Chiến và của Linh Chi, trước đó Chiến phải lùng khắp Kompong Cham, tìm một hiệu ảnh tư nhân để chụp lại. Chiến ngậm ngùi: Tao chỉ giữ ảnh chụp lại thôi, mày mang ảnh gốc về, Linh Chi mới tin được. Nhớ mang ảnh cu Thắng cho tao nhé. Chúng tôi chia tay nhau trong tiết chiều se se lạnh.
Tháng 11, năm  1980…
Quán cà phê Mimosa, đường Hùng Vương, không xa Bến xe Phía Nam bao nhiêu. Tôi dự định xong việc, sẽ đi chuyến xe Huế về Vinh Thanh, quê mẹ của tôi. Nhưng mọi việc không như tôi tính…
Bộ quân phục còn nhuốm bụi rừng núi giúp hai cô phát hiện ra tôi ngay, khi tôi ngơ ngác bước vào quán. Linh Chi vẫn đẹp như ngày nào, tuy có hơi đẫy ra một tí. Gái một con mà! Cô gái mảnh mai bên cạnh chắc là Như Quỳnh, bạn qua điện thoại với tôi. Hai ly chanh muối trước hai cô còn đầy, chắc họ mới tới chưa lâu. Thủ tục giới thiệu qua nhanh, vì Linh Chi và tôi đã biết nhau trước.
Tôi lóng ngóng đặt giò lan rừng trước mặt Linh Chi, lúng túng: Anh tặng gia đình em giò lan rừng. Của một đồng,…
Như Quỳnh tiếp lời: … nhưng công một nén! Còn quà của em đâu?
Tôi ngớ người, vì tưởng chỉ gặp Linh Chi thôi, trao mấy thứ của Chiến rồi đi. Có ai ngờ hai người cùng đi với nhau.
Tôi đánh trống lảng: Cu Thắng thế nào, Linh Chi? Bà nội cháu khỏe không? Linh Chi điềm đạm: Cháu ở nhà với Bà. Cả hai bà cháu đều khỏe. Em cảm ơn đơn vị các anh đã quan tâm giúp đỡ, khi em sinh cháu.
Linh Chi mỉm cười: Anh uống gì, gọi đi, rồi mình nói chuyện. Chắc hơi lâu đó! Tự nhiên tôi thấy ớn. Có tật thì giật mình. Tôi gọi ly cà phê đen đá, nhấp một ngụm để dấu xúc động.
Linh Chi nhẹ nhàng: Trước khi vào việc, em muốn giới thiệu với anh về công việc hiện nay của em. Em làm Quản thủ Thư viện của Trường, thỉnh thoảng cũng tham gia Hội đồng Xử lý các vụ đạo văn…
Tôi nghe mà chóng cả mặt. Sao Linh Chi lại đề cập tới chuyện đạo văn? Tôi có ăn trộm văn của ai đâu?
Linh Chi rành rẽ: Em thường được Hội đồng phân công theo dõi tính logic của các văn bản không chính gốc, từ đó phát hiện những điểm vi phạm.  Hôm nay, em muốn nói chuyện với anh về sáu lá thư mà theo anh, anh Chiến đã viết trước khi mất, nhờ anh chuyển về, để mẹ anh ấy nghĩ rằng con mình còn sống. Còn em, gần hai năm trước, anh đã báo thông qua Quỳnh: anh Chiến đã mất sau khi viết cho em sáu lá thư trong hai tuần cuối đời… Tôi ấp úng: Đúng vậy…
Linh Chi nghiêm giọng: Nếu đúng như vậy, anh vui lòng trả lời cho em những thắc mắc sau đây. Thứ nhất, sáu lá thư anh Chiến viết trong hai tuần ở bệnh viện trên các loại giấy khác nhau: ba lá đầu tiên trên giấy Ford, hai lá tiếp theo trên giấy Couché matt, lá cuối cùng viết trên giấy Crystal. Bệnh viện làm gì có đủ các loại giấy này để thương binh viết thư? Thứ hai, lá thư cuối cùng của anh Chiến, (ghi tháng 10 năm 1979 nhưng được viết từ tháng 4), có nhắc đến cu Thắng. Em sinh con so, chỉ sau 38 tuần, cu Thắng sinh vào tháng 9. Làm sao từ tháng 4, anh Chiến đã biết em sinh con trai, và đặt tên là Thắng? Thứ ba, khoản tiền anh gởi về cho em cao hơn nhiều so với chế độ phụ cấp cho gia đình liệt sĩ theo quy định, nguồn gốc ở đâu? Từ những nghi ngờ đó, đầu tháng trước, em đã gởi thư đến Bộ Tư Lệnh Mặt Trận 479, hỏi về hồ sơ Liệt sĩ Trần Quyết Chiến, quê ở Thừa thiên Huế. Thư trả lời đây: không có liệt sĩ nào ở Thừa thiên Huế tên Trần Quyết Chiến, mà chỉ có Thương binh hạng 1/4 tên Trần Quyết Chiến, quê ở Phú Vang, Thừa thiên Huế. Anh có muốn em đọc chi tiết lá thư trả lời không?
Như học sinh không thuộc bài, bị Cô giáo quay như chong chóng, tôi hoảng hồn, lắp bắp như chó ăn vụng bột: Thôi thôi, anh chịu thua Linh Chi rồi! Anh xin khai tất cả đây! Tôi thuật lại chi tiết những dằn vặt của Chiến khi nằm viện, việc trao đổi với tôi về kế hoạch điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa… Linh Chi im lặng ngồi nghe, nét mặt không lộ một chút phản ứng. Như Quỳnh cũng im thin thít theo dõi, chẳng nói lời nào.
Linh Chi điềm đạm: Anh đã nói xong chưa, tới phiên em nói nhé!
Giọng Linh Chi cao dần lên: Các anh là đàn ông, nên lời nói sặc mùi gia trưởng! Các anh chỉ suy luận thế này, quyết định thế kia, có bao giờ các anh đặt mình vào vai trò phụ nữ để suy nghĩ không? Anh Chiến nghĩ người chồng phải có bề mặt xứng đáng với vợ, nhưng anh ấy có nghĩ, người vợ phải có chiều sâu xứng đáng với người chồng không? Phụ nữ chúng em yêu hình bóng anh bộ đội, không phải vì bộ đội dễ điều khiển như chúng em nói đùa trước đây, mà chính vì bộ đội đã hy sinh xương máu để bảo vệ sự bình yên cho chúng em, cho gia đình chúng em. Các anh đã chẳng tiếc tính mạng, thì chúng em đâu có thể sĩ diện mà không dám sống chung với người chồng bị thương tật do chiến tranh? Sau này, cu Thắng lớn lên, nó sẽ tự hào khi có cha đổ xương máu cho Tổ quốc, nhưng chắc nó sẽ buồn khi thấy mẹ nó bị cha đánh giá thấp quá!
Đưa tay quệt hai dòng nước mắt chảy ròng ròng trên má, Linh Chi tiếp: Tiếc là em chỉ gặp anh thôi, chứ gặp anh Chiến bây giờ, em sẽ tát anh ấy mấy cái về việc coi thường phụ nữ chúng em! Rồi sau đó, em sẽ lôi tuột anh ấy về nhà, cho gặp Bà Nội và cu Thắng, bắt anh ấy thực hiện đầy đủ nhiệm vụ làm con, làm cha của mình!
Có tiếng cười rúc rích của Như Quỳnh: Nhiệm vụ làm chồng nữa chứ! Cu Thắng đang thích có em mà! Chỉ tội cho riêng tao…
Linh Chi quay phắt lại nhìn tôi: Anh Chiến và anh định thu xếp cho anh lọt vào nhà em, thì em đã đóng sập cửa từ chối rồi! Sao anh không nghĩ đến gia đình Quỳnh, cũng yêu thương, mến chuộng bộ đội như gia đình em, có khác gì đâu? Quỳnh, tao giành lấy giò lan rừng, nhường anh Quân cho mày…
Tôi sững sờ, lúng túng nhìn Như Quỳnh. Tôi tưởng Như Quỳnh sẽ xù lông cánh lên, vặc lại Linh Chi, nhưng ơ kìa, lạ chưa? Mặt Như Quỳnh đỏ như gấc chín, em nhìn lảng ra chỗ khác, tránh cái nhìn đăm đăm của tôi.
Lòng rộn ràng mở hội, tôi tự nhủ trong lòng: Quỳnh ơi, hôm nay, nhất định em phải cùng về quê với anh nhé!

(viết nhân Kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng Kampuchia 07/01)

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Truyện ngắn 19

ĐẰNG SAU VÒNG HOA PHÚNG ĐIẾU
         Chiếc Vertu Signature S Rose Gold rung lên nhè nhẹ, cùng với khúc nhạc dạo đầu bài Le Beau Danube Bleu, báo hiệu có tin nhắn. Tôi chần chừ mấy phút, đưa đầu chải Mascara Extra Volume Collagen phết xong làn mi trái cho thật chuẩn (làn mi mà chồng tôi vẫn thường ví von làn mi của mẹ Cầm như của con gái tuổi băm, dù tôi đã lên chức Cố mấy năm nay), rồi mới với tay mở chiếc bao da điện thoại, thầm nhủ phải đổi bao da đà điểu thôi, loại bao da cá sấu này lỗi thời rồi. Tin nhắn ngắn gọn, không dấu, gói gọn trong 160 ký tự, đúng phong cách của chị Thanh, Hội trưởng Phụ nữ QB, nhưng nội dung làm tôi ngơ ngẩn mất mấy phút: chị báo tin bạn Minh Trân đã mất, cùng với thời gian tổ chức Lễ Viếng. Tôi bần thần nhớ lại, quá khứ sáu bảy mươi năm trước ào ạt kéo về...
Những năm 40 của thể kỷ 20, Nhóm Thất Tiên Nữ chúng tôi còn là những thiếu nữ đang tuổi cắp sách đến trường. Tuổi trẻ hồn nhiên, ngây thơ, ít so bì, chúng tôi đối với nhau thân thiết như chị em một nhà. Chị Thanh lớn nhất (do đi học muộn), được xem như chị Cả, thường đứng ra phân xử những tranh cãi nhỏ nhặt của các em. Tôi nhỏ tuổi nhất, lại sinh thiếu tháng vào cuối năm, mặc nhiên trở thành cô em út ít được cưng chiều của Nhóm. Chị Trân lớn hơn tôi hai tuổi, lẫn vào các chị còn lại như chị Thọ, chị Lê, chị Hiên, chị Bội... Tuy học cùng nhau nhưng kinh tế gia đình mỗi người một khác: cha mẹ tôi, với Cửa hàng Tơ lụa lớn nhất nhì thị xã ĐH, có thể chăm lo cho tôi theo những điều kiện tốt nhất. Trong khi các chị em thường tập văn nghệ chỉ bằng giọng hát, nhiều lắm là có tiếng kèn harmonica hỗ trợ, hàng tuần tôi vẫn học piano với gia sư hai buổi tại nhà, vì thầm chê loại đàn guitare, mandoline không quý phái bằng...
Trong thâm tâm, tôi công nhận giọng Nữ Trung của chị Trân khá ấm, dù về nhạc lý, chị chỉ biết võ vẽ. Cũng đúng thôi, cha chị Trân là trợ giáo, mẹ nội trợ, nuôi hơn chục miệng ăn trong nhà (hồi đó, xã hội đánh giá hạnh phúc gia đình qua số con cái trong nhà), làm sao gia đình có thể cho chị học những kỹ năng sống (theo cách gọi sau này) được? Thi thoảng, tôi thấy bất mãn khi nhiều anh (trong đó, tôi đặc biệt chú ý anh Nguyên Lộc, học trước chúng tôi mấy năm), thậm chí nhiều thầy giáo trong Trường, chăm chú ngắm chị Trân. Kỳ lạ thật! Chị thấp hơn tôi gần mười phân, đi guốc thấp, thường chỉ mặc dài trắng khi đi học hoặc áo bà ba khi ở nhà, ra chợ, so thế nào được với tôi chân dài, thắt đáy, lưng ong tha thướt (bây giờ gọi là dáng người mẫu) với quần áo trên người toàn hàng lụa Tô Châu?
Việc học hành ở trường, kết quả học tập cũng như nhau. Các gia đình Việt Nam hồi đó đều chủ trương cho con gái biết chữ là lấy chồng được rồi, học hết phổ thông là nhiều lắm, chứ học càng cao càng chống ề... Chị Trân học khá những môn hợp với nam giới, giờ Toán thường được gọi lên bảng chữa bài tập, khi thi tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp (BEPC), chị đạt 19.75/20 điểm Vật Lý, được ông Chánh Chủ khảo Hội đồng tuyên dương. Nhưng sau đó là chuỗi ngày đen tối của Chị...
Riêng tôi, vốn có khiếu văn chương từ cấp tiểu học, bài luận nào cũng đạt điểm cao, đến cấp trung học đệ nhất cấp, tài năng càng phát triển. Được sự khuyến khích của cha mẹ, anh em, tôi đã nghiền ngẫm hàng trăm tác phẩm văn chương trong Thư viện Gia đình, cả Thư viện Thị xã. Sang trung học đệ nhị cấp, tôi được Gia đình gởi ra học ở Trường Bưởi (khi đó đã đổi tên thành Trường Chu Văn An), trọ ở nhà Cô ruột ở phố Thụy Khuê (Cô lập gia đình, sinh toàn con trai, nên quý tôi như con gái ruột). Hồi đó không có Lớp Chuyên Ban, nhưng tôi đã nổi bật trong toàn Trường về môn Văn học, đã mấy lần được cử đi thi Học sinh Giỏi Văn toàn Thành phố Hà Nội. Tôi được tuyển vào học lớp Văn khóa I của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1951, đến khi tốt nghiệp được nhận về giảng dạy Văn học ở Trường Chu Văn An, nơi đã ươm mầm tài năng của tôi. Một vài năm sau thời kỳ Đổi Mới, tôi tập huấn ở Trường Viết Văn Nguyễn Du, bắt đầu có tên tuổi trên văn đàn với một số tác phẩm...
Chị Trân tham gia công tác Cách mạng từ những năm tranh tối, trang sáng ở tỉnh QB. Căn cứ theo khả năng học tập, Chị được phân công phụ trách lớp Bình dân Học vụ theo chủ trương Chống Giặc Dốt. Tôi nghĩ có nhiều học viên tham gia Lớp học không phải vì nhu cầu học tập mà vì muốn tiếp xúc với Cô Giáo dáng thấp nhỏ, có nụ cười hiền hậu, cuốn hút... Rồi sau đó nghe tin Chị bị Phòng Nhì Pháp bắt, tra tấn để truy ra tên tuổi người chỉ đạo phong trào. Tôi bàng hoàng suy nghĩ, không biết tấm thân liễu yếu, đào tơ như Chị làm sao chịu nỗi các đòn tàu bay, tàu ngầm... của bọn Phòng Nhì? Thế mà, các anh Khánh, Ngọc (trực tiếp lãnh đạo Chị) sau khi cẩn thận chuyển sang địa bàn mới, vẫn được cơ sở ở địa bàn cũ cho biết không ai sờ gáy đến... Một thời gian sau, không thu thập được chứng cứ gì, Chị được Phòng Nhì thả về nhà, nhưng bị quản thúc không được rời khỏi nơi cư trú trong thời hạn hai năm trời... Rồi cũng như những phụ nữ đến tuổi cập kê khác, Chị cũng lập gia đình dù có hơi muộn đôi chút, với một thầy giáo người miền Nam đã có một đời vợ...
Tôi vẫn quan niệm như người xưa, pha lẫn chút tư duy hiện đại: đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm. Điều tự hào lớn nhất của người phụ nữ, đối với tôi, là sự thành đạt của gia đình, từ đại gia đình của ông bà, cha mẹ, đến tiểu gia định của Chồng, Con. Cha Mẹ tôi, trong cuộc Kháng chiến chống Pháp, đã chuyển ra sống hẳn ở Hà Nội, tham gia tích cực Tuần Lễ Vàng được phát động khắp toàn quốc. Tên tuổi các Cụ được tuyên dương trên Đài Phát thanh Hà Nội, cùng với Bằng Liệt Sĩ của anh Cả tôi từ những năm đầu kháng chiến, nên trong công cuộc Cải cách Ruộng Đất nhiều điều tiếng, uy tín gia đình tôi (ở dạng Tư sản Yêu nước) vẫn không ảnh hưởng gì. Thông, em trai út của tôi, vẫn học tiếp Trường Cán bộ Công đoàn, khi tốt nghiệp nhận công tác chuyên trách ở Nhà máy Phân đạm HB. Hai con của tôi, dựa trên uy tín của Cha Mẹ (chồng tôi cũng hoạt động trong ngành Văn học, có một số tác phẩm khá phổ biến) cũng có chỗ đứng vững chắc trong xã hội: con trai đầu là Trưởng phòng OTK của Công ty May 10, con gái út (tự hào hơn) là Trưởng Bộ môn Toán của một Trường Đại học ở Hà Nội. Riêng tôi, với bằng Đại học Sư phạm Văn học khóa I, thâm niên mấy mươi năm giảng dạy, Ban Chấp hành Hội Nhà Văn Việt Nam mấy nhiệm kỳ, tôi có quyền ngẩng mặt tự hào với bạn bè, đồng nghiệp...
Một thời gian khá dài, do bận sinh kế gia đình khi đất nước còn khó khăn, do thiếu nguồn liên lạc, tôi vắng tin các bạn học ở đất QB khô cằn sỏi đá ngày nào. Đến những năm bước sang Thiên Niên Kỷ mới, Hội Phụ Nữ QB ở thủ đô mới hoạt động trở lại, đứng đầu vẫn là bà chị cả Thanh... Qua chị Thanh, tôi mới biết tình hình sinh sống của các bạn cũ, và đặc biệt của chị Trân: hết thời gian bị quản thúc, chị theo gia đình chuyển vào trong Huế, rồi lập gia đình với người thầy trước đây đã dạy kèm tiếng Pháp lẫn Toán, Lý cho Nhóm Thất Tiên Nữ - thiếu tôi (đã chuyển ra học ở Hà Nội). Chị có đến 7 con cả trai lẫn gái (trong đó có một cháu đã từng tìm đến nhà lúc tôi đi công tác vắng, hỏi chồng tôi địa chỉ của Thông em tôi, tìm đến tận khu tập thể cơ quan để chuyển thư và quà của anh Nguyên Lộc, hiện định cư bên Thụy Sĩ; Thông có kể cho tôi, tỏ ra rất cảm kích). Dù đã hoàn tất khóa Nữ Hộ Sinh ở Từ Dũ, Chị đã từ chối lời mời cộng tác với bạn cùng khóa, mở Nhà Hộ sinh tư (trước 1975, nhà hộ sinh KC lớn nhất nhì Huế), để dành thời gian chăm sóc chồng và 7 đứa con ăn học. Năm 1991, chị Trân bị tai biến mạch máu não do huyết áp cao, bị bán thân bất toại, phải nhập viện cấp cứu. Được Bệnh viện và Gia đình tích cực điều trị bằng Tây Y lẫn Đông Y, Chị đã tập đứng dậy, vịn vào các giá đỡ để tập đi được một thời gian, thì bị tai biến lần thứ hai năm 1997, từ đó nằm liệt giường. Hàng ngày, các con vẫn chăm sóc Chị, cho uống sữa, ăn cháo xay, phân công nhau trực thời gian không bận công tác…
Nhân một chuyến đi tham quan các tỉnh Miền Trung của Hội Nhà Văn, tôi có tranh thủ ghé thăm chị Trân. Chị vẫn phải nằm trên giường, không ngồi dậy được, nhưng vẫn tỉnh táo nghe tôi kể chuyện gia đình, thỉnh thoảng lại mỉm cười, gật gật đầu (tội nghiệp, còn đâu nụ cười duyên dáng mê hoặc lòng người ngày trước?). Tiếng chị nói hơi khó nghe vì âm không tròn, thỉnh thoảng con chị đang trực Mẹ (tôi có hỏi và biết chính là người đã tiếp xúc với Thông, em tôi ở HB) lại phiên dịch lời của Chị cho tôi nghe. Cuối cùng, tôi có hỏi một câu, chắc làm Chị suy nghĩ ít nhiều: Thế bây giờ chị Trân học được đến bằng cấp gì rồi, chắc là đau ốm khó có thể trau dồi thêm kiến thức, phải không? Tôi thấy Chị ngẩn ngơ, chớp chớp mát suy nghĩ, thì con của Chị đã trả lời: Thưa Dì, con xin phép được trả lời thay. Mạ con chỉ học đến cấp phổ thông, nhưng đã tạo điều kiện cho mọi thành công khác trong gia đình. Ngoài Ba con là nhân sĩ trí thức, mười bốn con cái dâu rể, thấp nhất là bằng đại học, còn tiến sĩ, phó giáo sư được dăm ba người. Tôi bàng hoàng với số liệu này (đánh đúng vào mục đích đối trọng của tôi), im lặng không nói gì thêm, thầm nghĩ với câu thành ngữ đằng sau thành công của người đàn ông là có bóng dáng của người đàn bà, mà với Chị là thành công của cả đại gia đình...
Sau chuyến đi tham quan này, tôi kể chuyện với Lê, bạn cùng nhóm QB ở thủ đô. Vốn là y sĩ, Lê nói thêm: Em chưa biết hết đâu. Chị làm ngành Y nên hiểu tận tường. Nằm liệt giường như chị Trân, có mấy ai kéo dài được năm bảy năm, với tình trạng loét da? Năm ngoái chị có vào thăm chị Trân trong Huế, sờ lưng chị ấy thấy mịn màng như da con trẻ. Tính đến lúc đó, chị bị tai biến 23 năm, và nằm liệt giường đã được 17 năm rồi. Có thể nói đây là kỳ tích trong việc điều dưỡng, Cầm ạ.
Thông tin gì cũng phải được kiểm tra đến đầu, đến đũa. Tôi gọi điện lại cho chị Thanh, xa gần mấy câu rồi hỏi luôn: Thế chị Trân mất vì lý do gì, có phải bị loét da không? Câu trả lời làm tôi sáng mắt: Không đâu! Con dâu, con gái là bác sĩ, đều xác định chị mất do suy tim, 93 tuổi rồi mà! Chiều thứ bảy còn bập bẹ hát Frères Jacques với con trai, đến tối thấy khó thở, loạn nhịp tim, và ra đi mờ sáng thứ hai.
Thế là mọi sự đã rõ ràng. Điều đáng tự hào của Chị, không phải là tuổi thọ 93, mà là 27 năm vẫn lạc quan chống chọi với chứng bán thân bất toại, với 21 năm liệt giường. Tôi nghĩ các con của Chị đã hết lòng chăm sóc Mẹ, giống như Chị đã hy sinh tất cả để chăm sóc cho Gia đình.


Tôi sẽ ghi nội dung gì trên điện hoa sẽ gởi vào viếng chị, để thể hiện lòng ngưỡng mộ của mình?