Thứ Tư, 9 tháng 1, 2019

Truyện ngắn 20

<script async src="https://pagead2.googlesyndication.com/pagead/js/adsbygoogle.js?client=ca-pub-7143897352168730"
     crossorigin="anonymous"></script>


PHÍA SAU NHỮNG LỜI NÓI DỐI
Như Quỳnh, Trưởng phòng Kế toán:
Từ thuở nhỏ, tôi đã được gia đình, nhà trường dạy dỗ về lòng thành thật.
Tôi đã đọc, nhớ như in Ông đồ Bể của Khái Hưng, truyện ngắn thứ nhất ở bộ Sách Hồng của Tự Lực Văn đoàn dành cho thiếu nhi. Tôi tự hứa cố gắng sống thành thật như ông đồ Bể, dù tôi biết đó chỉ là nhân vật tưởng tượng của Trần Khánh Giư. Ông đã chứng tỏ một tư cách quang minh chính đại, từ việc không bẻ mía bên đường để ăn khi đang khát, đến việc không đút lót, lễ lạc quan viên để thi đỗ, và không nhận phẩm vật vua ban, khi biết mình thi đỗ trạng nguyên nhờ thần linh can thiệp…
Tôi cũng tâm đắc mẩu chuyện Tuyển Nhân Viên đọc trên báo. Với câu thứ nhất: Ở cơ quan chúng tôi, tiêu chí thứ nhất là sự sạch sẽ. Anh/Chị đã chùi sạch giày vào tấm thảm để ngoài hành lang chưa? Ứng viên giật mình: Thưa, chùi rồi ạ. Câu tiếp theo là phán quyết: Tiêu chí thứ hai là sự thành thật. Anh/Chị bị loại: ngoài hành lang không có tấm thảm chùi chân nào cả…
Tốt nghiệp đại học Tài chính, tôi nhận công tác Kế toán Vật tư, vài năm sau là Kế toán Tổng hợp, kiêm Trưởng phòng Kế toán một trường đại học ở Huế. Công việc chuyên môn giúp tôi hoàn chỉnh sự chính xác, chỉn chu trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày. Lâu dần thành thói quen, khi có sai sót, tôi sẳn sàng nhận lỗi để sửa chữa lại, chứ càng né tránh, hậu quả càng nặng nề hơn.
Tháng 4, năm 1979…
Thế mà anh chàng Quân lại dẫn dắt tôi vào con đường dối trá. Tôi nhớ rõ mồn một buổi gặp anh đầu tiên, qua điện thoại.
Theo Quân kể lại (đường dây quân đội thường bị nhiễu sóng, tôi phải vận dụng hết thính lực mới nghe rõ), Quân và anh Chiến (chồng của Linh Chi, bạn thân của tôi, đang là Quản thủ Thư viện trong Trường) đều là lính Trinh sát của Tiểu đoàn, thuộc F286. Sau mấy lời tự giới thiệu, Quân hỏi thăm mọi người trong nhà anh Chiến (anh Chiến là độc đinh, ba anh đã mất từ lâu). Trước hết là bệnh tình của mẹ anh Chiến (đang được tiếp tục điều trị tại nhà để phục hồi, sau tai biến do huyết áp), rồi đến sức khỏe của Linh Chi (đang mang thai tháng thứ ba, tiến triển và tiên lượng tốt).
Vui miệng, tôi định nhắc lại chuyện Chiến tranh thủ tạt về nhà nửa tiếng đồng hồ mấy tháng trước (và tạo ra sản phẩm). Lũ bạn gái chúng tôi tếu táo bịa chuyện: anh Chiến vội vàng quên cả tháo ba lô, nên ban đầu Linh Chi cứ thắc mắc mới mấy tháng ăn cơm lính mà sao anh lên cân quá! Sau đó, tôi chợt nhớ ra, ở đầu dây bên kia chỉ là người mới quen thôi, nên lặng im, cố nhịn.
Lại nghe giọng ngập ngừng của Quân, tôi phải lắng tai mới nghe rõ: Cách đây hai tuần, Mặt trận 479 đang mùa chiến dịch, Tổ tam tam của Chiến bị một quả B41. Chiến bị thương nặng, nhập viện điều trị mấy tuần rồi hy sinh… Tôi thảng thốt: Anh Chiến mất rồi à? Sao không thấy đơn vị ở Kampuchia báo về gia đình? Có đem xác về nước được không? Quân chậm rãi: Chiến tranh mà. Chúng tôi phải tạm chôn anh ấy ở Kompong Cham, nhờ dân địa phương đó hương khói. Có điều kiện, đơn vị sẽ tổ chức đưa xác anh và những liệt sĩ khác về.
Tôi ngậm ngùi: Tội nghiệp cho anh ấy. Không biết khi hay tin dữ, mẹ anh ấy có chịu đựng được không… Quân nhỏ giọng: Biết mình khó qua khỏi, anh ấy rất lo ảnh hưởng đến sức khỏe của Mẹ, nên dặn tôi nhờ chị báo riêng cho chị Chi thôi. Tôi ngắt lời: Chẳng lẽ tụi em dấu Mẹ anh ấy suốt đời à? Quân trầm ngâm: Cụ đang mong ngày chào đời của cháu nội, hy vọng cháu sẽ làm Cụ khuây khỏa. Trong mấy tuần cuối đời, anh Chiến viết liền sáu lá thư cho gia đình, nhờ tôi mỗi tháng gởi về gia đình một lá, mong sao giữ Cụ được đến ngày cháu chào đời. Anh Chiến đã tính, khoảng sáu tháng nữa là chị Chi sinh cháu...
Suy đi tính lại, không biết làm gì hơn để giữ sức khỏe cho mẹ anh Chiến, tôi nghĩ chắc phải nghe theo lời của anh Quân.
Giọng Quân ngần ngừ: Khi nào tôi về phép, sẽ ghé ngang Huế, mang quân tư trang của anh Chiến về trao lại cho chị Chi. Nhờ chị làm công tác tư tưởng cho chị Chi trước… Tôi gật đầu, dù qua điện thoại, Quân không thấy cái gật đầu của tôi: Em sẽ cố trấn an và thuyết phục Linh Chi bình tĩnh, lo chu toàn cho cháu. Anh nhớ tuyệt đối giữ không để mẹ anh Chiến biết nhé.
Vô hình chung, tôi nhớ lại công chúa Liên Hương, vợ nhân vật truyền thuyết Ông đồ Bể, khi chứng tỏ tính thành thật với vua cha: Trong đời con, một đôi khi con cũng nói dối, nhưng là những câu nói dối vô hại, hoặc vì phép xã giao, hoặc vì lòng nhân đạo, để bào chữa hành động dối trá của tôi.
***
Tháng 10, năm 1980…
Hôm nay là ngày Lễ Thôi Nôi của con trai anh Chiến và Linh Chi.
Tôi ngắm mẹ anh Chiến đang bế cháu nội bằng tay trái, ru cháu Thắng bằng giọng hơi ngọng nghịu. Thật khó tin rằng, bà đã vượt qua đợt tai biến mạch máu não năm trước. Tuy tay phải của bà có phần lóng ngóng, nhưng thần thái bà luôn luôn vui vẻ, phấn khởi. Giọng nói, nụ cười của bà tuy hơi méo mó, nhưng vẫn nở thường xuyên trên môi. Cháu Thắng nhờ đã quen mặt, quen hơi bà nội từ lúc mới sinh, nên không lấy làm lạ, chịu để cho bà bế ẵm.
…Tôi không còn mặc cảm dối trá như những tháng đầu, sau khi liên lạc với anh Quân nữa. Đến hẹn lại lên, khoảng tuần đầu mỗi tháng, tôi đến Phòng Văn thư của Trường, nhận phong bì thư dán tem quân đội, do anh Chiến viết trước khi mất (và anh Quân tuần tự gởi về), mang đến Thư viện trao lại cho Linh Chi, để đọc cho mẹ anh Chiến nghe.
Sau cơn sốc tinh thần, ban đầu khóc lóc, vật vã khi biết tin Chiến hy sinh, Linh Chi đã bình tĩnh lại dần, lau nước mắt để tập trung trước là lo cho cháu, sau là lo cho Bà Nội, theo lời khuyên của mọi người. Nhiều lần nhìn Linh Chi chăm chú đọc những lá thư với những nét chữ chân phương quen thuộc của anh Chiến, lòng tôi lại nao nao xúc cảm. Tôi thương hình ảnh anh bộ đội đang xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, quý gia đình đang xây dựng hậu phương vững chắc để ổn định tinh thần người lính nơi tiền tuyến, và đặc biệt trân trọng những người chấp nhận âm thầm chịu nỗi đau để trấn an tinh thần người thân, như Linh Chi bạn tôi. Hồi còn đi học, Linh Chi và tôi thường nói đùa: sau này chỉ lấy chồng là bộ đội, hoặc bộ đội chuyển ngành, và giải thích tếu táo: vì đã quen với tác phong thi hành trước, khiếu nại sau
Nội dung những lá thư của anh Chiến viết trước khi mất không đúc khuôn như một. Theo ngày tháng gởi đi, anh hư cấu những diễn tiến thay đổi theo thời gian, đúng tính cách sâu sát của anh. Có lần, Chi tâm sự với tôi, thư anh Chiến gởi về, có kể với mẹ: anh bị sốt rét nặng, tưởng không qua khỏi, may nhờ chính anh Quân đưa đi viện, rồi lại hiến 2 đơn vị máu để cấp cứu cho anh ấy. Tôi ngầm hiểu, trong những ngày cuối đời, anh Chiến đã có kế hoạch định hình dần cho mẹ mình sự mất mát, để mẹ không quá đau thương khi biết tin con trai mình hy sinh. Ngoài ra, những lời khen ngợi, tri ân của anh Chiến đối với anh Quân, dù chỉ thoáng qua trong thư, cũng cho tôi thấy mục đích của anh, muốn cho hình bóng anh Quân xuất hiện dần trong gia đình mình, nhất là với mẹ mình và vợ mình.
Phụ nữ có linh cảm nhạy bén trước những biểu hiện khác thường của nam giới.
Sau khi nắm được nội dung các lá thư anh Chiến đã viết (và anh Quân gởi về), tôi hiểu rằng kế hoạch điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa… đã được anh Chiến (và cả anh Quân nữa) xây dựng và đang thực hiện. Tự nhiên tôi thấy chạnh lòng khi chợt nhận ra hình bóng anh Quân đang choáng ngợp trong tâm trí tôi, dù tôi chỉ mới nói chuyện với anh qua điện thoại, chỉ biết thêm một ít thông tin qua những lá thư của anh Chiến. Vậy mà, buồn cười chưa, tim tôi lại đập rộn ràng, khi thấy Linh Chi chỉ tỏ thái độ thản nhiên khi nhắc đến anh Quân, như nhắc đến những đồng đội thân thiết khác của chồng. Tuy nhiên, trước đôi mắt sắc như dao của Linh Chi, tôi lại phải thản nhiên như không quan tâm gì đến anh Quân.
Trong lúc tôi xoay xở làm thủ tục xin ứng trước mấy tháng lương chuẩn bị cho Linh Chi sinh (thu nhập gia đình dựa chủ yếu vào lương công chức của Linh Chi, lương hưu của mẹ anh Chiến), thì Linh Chi nhận được ngân phiếu chuyển tiền tới mấy triệu đồng. Ban đầu tôi nghĩ, bộ đội như anh Chiến làm gì có tiền tử tuất cao như thế, thì thư kèm theo của anh Quân đã giải thích rõ. Đơn vị đã xét trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt sĩ, cộng với nguồn ủng hộ từ các anh em trong đơn vị. Thôi thì được đồng nào quý đống đó, tôi hiểu cuộc sống ở biên giới Tây Nam nhiều khó khăn, khoản tiền này đã thể hiện tấm lòng quý báu của đồng đội rồi.
Rồi đến ngày cháu Thắng chào đời. Tháng trước đó, Linh Chi đã về quê, nhờ đứa cháu gái lên chăm sóc cho mẹ chồng, để chủ động lo việc sinh nở. Rất may, mọi việc đều thuận lợi, không chỉ nhờ mẹ cháu thuộc dạng thắt đáy lưng ong nên sinh nở dễ dàng, cháu Thắng lại là con bộ đội biên giới, nên khắp nơi, từ cơ quan đến bệnh viện, đều tạo mọi điều kiện thuận lợi.
Đặc biệt, khi nghe được tiếng khóc chào đời của cháu nội, mẹ anh Chiến như trẻ ra đến chục tuổi. Tôi cảm nhận ngay thành quả của vở kịch mà tôi tham gia, và tôi tin tưởng rằng vong linh anh Chiến (nếu có) cũng toại nguyện. Mẹ anh Chiến thường xuyên giành quyền chăm sóc cháu nội, bà bảo con trai đi xa thì đã có cháu nội thay, mẹ nhìn cu Thắng cũng như thấy Chiến rồi…
Trước sau, mẹ anh Chiến vẫn chưa biết gì về tin tức của con. Tôi cũng mong vở kịch này kéo dài mãi, vì mẹ già như chuối chín cây, hiện tại thì như vậy nhưng nếu nghe tin con trai duy nhất không còn, chưa biết phản ứng của mẹ ra sao? Tôi dặn Linh Chi, đóng thùng thư riêng có khóa của gia đình trước cổng nhà, phòng khi giấy báo tử anh Chiến được gởi trực tiếp về nhà…
Buỗi Lễ Thôi Nôi của cu Thắng kết thúc trong tiếng cười vui vẻ của mọi người. Theo phong tục địa phương, gia đình đưa một loạt đồ dùng bằng nhựa cho cháu chọn, cu Thắng đã vồ ngay lấy ống seringue nhựa (dĩ nhiên, không gắn kim) và giữ rịt không rời. Bà Nội vui vẻ: lớn lên cháu sẽ làm bác sĩ, chăm sóc sức khỏe cho cả nhà nhé. Rồi bà ước ao: đợi Ba cháu về, cho cháu một em gái nữa thì tuyệt! Cả nhà cười ồ, nhưng rõ ràng tiếng cười của Linh Chi và tôi đều có nét gượng gạo.
Cuối buổi, Linh Chi kéo tôi ra ngoài, nói nhỏ: Theo kế hoach, tháng sau anh Quân sẽ mang quân tư trang của anh Chiến về giao cho gia đình. Anh chỉ ghé Huế một buổi rồi về quê. Tao hẹn gặp anh ấy sáng chủ nhật đầu tháng, ở quán cà phê Mimosa, mày đi với tao nhé! Tôi xao xuyến trong lòng, vờ ngẩn ngơ: Chuyện gia đình mày thì kéo tao vào làm gì? Linh Chi nghiêm nghị: Việc cần thì tao mới nhờ mày. Mày đi với tư cách bạn, và với tư cách quân sư nữa. Tôi gật đầu, hỏi: Mà mày định nói chuyện gì? Linh Chi nhỏ giọng: Tới khi đó mày sẽ biết. Tao cần nắm một số thông tin rồi mới quyết định. Nhớ thu xếp đi với tao nhé.
Tôi mỉm cười, ít nhất mình cũng gặp trực tiếp anh Quân đã mọi thứ tính sau. Tự nhiên tôi thấy lo lo. Anh Chiến và Linh Chi có tên cùng âm CHI, thì bây giờ anh không còn nữa! Anh Quân và tôi (Quỳnh) có tên cùng âm QU, liệu có rủi ro gì không?
***
Minh Quân, Trung đội trưởng Trinh sát:
Tháng 3, năm 1979…
Tội nghiệp thằng Chiến bạn tôi. Khuôn mặt đẹp trai như tài tử điện ảnh (đẹp hào hùng như tài tử Trung Quốc, chứ không ẻo lả như tài tử Hàn Quốc đâu) không còn nữa. Trong đợt chống cường tập cuối chiến dịch, để Tổ Cứu thương đưa thương binh rút ra hậu cứ, Tổ tam tam của Chiến nhận ở lại giữ chốt, đã lãnh trọn mấy quả B41. Khi chúng tôi cùng thê đội bổ sung quay lại cứu viện, hai đồng đội của Chiến đã hy sinh, còn Chiến, thân xác tả tơi như cái mền rách. Lửa B41 đốt chảy bỏng gần hết khuôn mặt của Chiến, mắt phải đã hỏng hoàn toàn, mắt trái chỉ còn thấy lờ mờ. Cánh tay trái của Chiến bị cối 82 dập nát, xương thịt bắn tung tóe khắp nơi. Vất vả lắm, chúng tôi mới đưa Chiến về đến trạm phẫu thuật tiền phương để cứu chữa. Hai tuần nằm viện, nhiều khi tưởng Chiến không qua khỏi, nhưng thật kỳ lạ, Chiến vẫn mở được mắt sau những ca phẫu thuật hàng chục tiếng đồng hồ. Khi nghe câu nói đùa của Chiến: cái số tao sống dai lắm, Quân ạ… tôi biết hắn vẫn sống nhăn, như hồi nhỏ, cùng chăn trâu, đi học, nhập ngũ với tôi. Tôi an ủi Chiến: còn giữ được cái gáo về với Bọ Mạ là tốt rồi, à với em Chi nữa chứ! Hắn cười méo mó.
Ngày trước, Chi đã chọn Chiến giữa hai chúng tôi, không phải vì hắn đẹp trai hơn, mà vì cái gì khác, chúng tôi không rõ. Hắn đòi tôi đưa gương soi cho hắn ngắm dung nhan mùa hạ của mình, rồi ngăn tôi khi định viết thư về nhà, báo tin Chiến còn sống… Chiến nhếch mép: Bây giờ tao đẹp trai như thằng Quasimodo thế này, mày định tập cho Chi làm Esremalda hả? Tôi gượng gạo: ­Thì Chi vẫn là vợ của mày mà! Chiến gằn giọng: Ngày trước Chi là vợ, còn ngày nay tao là cục nợ, mày biết không? Làm sao con người xinh tươi, đẹp đẽ như Chi lại có thằng chồng có hình thức ma chê, quỷ hờn như tao được? Tôi im lặng.
Chiến xuống giọng: Mày có còn là bạn của tao không, Quân? Tôi cười: Có khi nào tao chẳng là bạn mày đâu. Chiến ngậm ngùi: Vậy thì tốt. Mày nghe tao đây. Xem như đối với gia đình, đối với Linh Chi, tao đã chết rồi! Tao chỉ ngại, tin tao chết sẽ làm ảnh hưởng đến bệnh tình mẹ tao, tháng trước bà mới nhập viện điều trị tai biến do huyết áp cao. Chi đã có thai sang tháng thứ tư, nhưng tao tin Chi sẽ đủ nghị lực để vượt qua, vì đứa con sau này. Bây giờ, mày gọi điện về cho Quỳnh, bạn cùng cơ quan của Chi, báo tin tao đã mất, nhưng dặn Quỳnh từ từ rồi báo cho Chi hay. Với mẹ tao, chắc khó đón nhận hung tin này. Tao chỉ mong sao Cụ sống đến ngày Chi sinh, hy vọng cháu nội sẽ làm nguồn động viên cho Cụ vượt qua nỗi đau. Mày nói với Quỳnh, mỗi tháng sẽ có một lá thư tao đã viết sẳn, nhờ mày gởi về Quỳnh chuyển cho gia đình, cho tới ngày con tao chào đời…
Tôi chớp mắt: Vậy ai sẽ lo cho Nhi và con sau này? Chiến cười: Tao muốn mày là bạn vì vậy. Tao sẽ xin ở lại mãi trong quân đội. Lương, phụ cấp khu vực, phụ cấp thương binh của tao sẽ gởi về cho Chi và con, mày chỉ tìm cách giải thích hợp lý. Tao tính rồi, những lá thư của tao sẽ đưa hình ảnh mày dần dần vào gia đình tao, và cuối cùng mày sẽ thay thế tao, đối với Chi và con, thậm chí cả mẹ tao nữa.
Tôi ngần ngừ: Liệu Chi có chấp nhận không? Chiến nhún vai: Tao xác định rồi. Tao đâu muốn Chi hy sinh tuổi xuân để thờ chồng, nuôi con suốt đời. Để thay thế tao, mày là thằng phù hợp nhất. Thương tao, mày sẽ lo cho con tao, như chính con mày. Với Chi, ngày trước, mày cũng thích Chi phải không? Tôi lúng túng: Tao cũng không biết nữa. Chiến ngậm ngùi: Cứ xem như tao đã chết rồi, tao nhờ mày gánh giúp món nợ trần ai cho tao vậy…
Mọi việc tiến hành đúng như chúng tôi dự định. Tôi đã gởi sáu lá thư của Chiến viết (bằng tay phải còn lại) về cho gia đình, đến ngày sinh cu Thắng (mọi thông tin đều biết qua Quỳnh, vì trên lý thuyết, Chiến đã mất, có ai để nhận thư gia đình đâu?). Gộp lương, phụ cấp thương tật và phụ cấp khu vực trong mấy tháng của Chiến được một khoản tương đối, anh em đơn vị ủng hộ ít nhiều, tôi mạnh dạn gởi ngân phiếu về cho Linh Chi, để chuẩn bị cho ngày cu Thắng chào đời. Sau đó, Chiến không viết nữa, vì khi đó cu Thắng đã chào đời, hy vọng Bà Nội đã ổn định…
Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa hết. Tôi còn nhớ lời hứa mang sẽ quân tư trang của liệt sĩ Trần Quyết Chiến về cho gia đình, dự định sẽ tìm cách nói quanh co, đổ lỗi cho các thủ tục hành chính phức tạp quá, nên chưa mang giấy chứng nhận liệt sĩ về được.
Tuy nhiên, tôi linh cảm mình khó lọt vào được gia đình Linh Chi như đã dự tính với Chiến, vì trước sau, đối với Linh Chi, tôi chỉ là cái bóng mờ. Những điều Chiến kể trong thư quá mờ nhạt để thuyết phục con người sâu sắc như Linh Chi. Thôi thì, một liều, ba bảy cũng liều, cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây. Tôi gói ghém hai bộ quân phục của Chiến, bộ đồ dành cho chiều cao 180cm, chắc chắn mọi người nhận ra. Một quyển sổ tay có nét chữ của Chiến, hai tấm ảnh của mẹ Chiến và của Linh Chi, trước đó Chiến phải lùng khắp Kompong Cham, tìm một hiệu ảnh tư nhân để chụp lại. Chiến ngậm ngùi: Tao chỉ giữ ảnh chụp lại thôi, mày mang ảnh gốc về, Linh Chi mới tin được. Nhớ mang ảnh cu Thắng cho tao nhé. Chúng tôi chia tay nhau trong tiết chiều se se lạnh.
Tháng 11, năm  1980…
Quán cà phê Mimosa, đường Hùng Vương, không xa Bến xe Phía Nam bao nhiêu. Tôi dự định xong việc, sẽ đi chuyến xe Huế về Vinh Thanh, quê mẹ của tôi. Nhưng mọi việc không như tôi tính…
Bộ quân phục còn nhuốm bụi rừng núi giúp hai cô phát hiện ra tôi ngay, khi tôi ngơ ngác bước vào quán. Linh Chi vẫn đẹp như ngày nào, tuy có hơi đẫy ra một tí. Gái một con mà! Cô gái mảnh mai bên cạnh chắc là Như Quỳnh, bạn qua điện thoại với tôi. Hai ly chanh muối trước hai cô còn đầy, chắc họ mới tới chưa lâu. Thủ tục giới thiệu qua nhanh, vì Linh Chi và tôi đã biết nhau trước.
Tôi lóng ngóng đặt giò lan rừng trước mặt Linh Chi, lúng túng: Anh tặng gia đình em giò lan rừng. Của một đồng,…
Như Quỳnh tiếp lời: … nhưng công một nén! Còn quà của em đâu?
Tôi ngớ người, vì tưởng chỉ gặp Linh Chi thôi, trao mấy thứ của Chiến rồi đi. Có ai ngờ hai người cùng đi với nhau.
Tôi đánh trống lảng: Cu Thắng thế nào, Linh Chi? Bà nội cháu khỏe không? Linh Chi điềm đạm: Cháu ở nhà với Bà. Cả hai bà cháu đều khỏe. Em cảm ơn đơn vị các anh đã quan tâm giúp đỡ, khi em sinh cháu.
Linh Chi mỉm cười: Anh uống gì, gọi đi, rồi mình nói chuyện. Chắc hơi lâu đó! Tự nhiên tôi thấy ớn. Có tật thì giật mình. Tôi gọi ly cà phê đen đá, nhấp một ngụm để dấu xúc động.
Linh Chi nhẹ nhàng: Trước khi vào việc, em muốn giới thiệu với anh về công việc hiện nay của em. Em làm Quản thủ Thư viện của Trường, thỉnh thoảng cũng tham gia Hội đồng Xử lý các vụ đạo văn…
Tôi nghe mà chóng cả mặt. Sao Linh Chi lại đề cập tới chuyện đạo văn? Tôi có ăn trộm văn của ai đâu?
Linh Chi rành rẽ: Em thường được Hội đồng phân công theo dõi tính logic của các văn bản không chính gốc, từ đó phát hiện những điểm vi phạm.  Hôm nay, em muốn nói chuyện với anh về sáu lá thư mà theo anh, anh Chiến đã viết trước khi mất, nhờ anh chuyển về, để mẹ anh ấy nghĩ rằng con mình còn sống. Còn em, gần hai năm trước, anh đã báo thông qua Quỳnh: anh Chiến đã mất sau khi viết cho em sáu lá thư trong hai tuần cuối đời… Tôi ấp úng: Đúng vậy…
Linh Chi nghiêm giọng: Nếu đúng như vậy, anh vui lòng trả lời cho em những thắc mắc sau đây. Thứ nhất, sáu lá thư anh Chiến viết trong hai tuần ở bệnh viện trên các loại giấy khác nhau: ba lá đầu tiên trên giấy Ford, hai lá tiếp theo trên giấy Couché matt, lá cuối cùng viết trên giấy Crystal. Bệnh viện làm gì có đủ các loại giấy này để thương binh viết thư? Thứ hai, lá thư cuối cùng của anh Chiến, (ghi tháng 10 năm 1979 nhưng được viết từ tháng 4), có nhắc đến cu Thắng. Em sinh con so, chỉ sau 38 tuần, cu Thắng sinh vào tháng 9. Làm sao từ tháng 4, anh Chiến đã biết em sinh con trai, và đặt tên là Thắng? Thứ ba, khoản tiền anh gởi về cho em cao hơn nhiều so với chế độ phụ cấp cho gia đình liệt sĩ theo quy định, nguồn gốc ở đâu? Từ những nghi ngờ đó, đầu tháng trước, em đã gởi thư đến Bộ Tư Lệnh Mặt Trận 479, hỏi về hồ sơ Liệt sĩ Trần Quyết Chiến, quê ở Thừa thiên Huế. Thư trả lời đây: không có liệt sĩ nào ở Thừa thiên Huế tên Trần Quyết Chiến, mà chỉ có Thương binh hạng 1/4 tên Trần Quyết Chiến, quê ở Phú Vang, Thừa thiên Huế. Anh có muốn em đọc chi tiết lá thư trả lời không?
Như học sinh không thuộc bài, bị Cô giáo quay như chong chóng, tôi hoảng hồn, lắp bắp như chó ăn vụng bột: Thôi thôi, anh chịu thua Linh Chi rồi! Anh xin khai tất cả đây! Tôi thuật lại chi tiết những dằn vặt của Chiến khi nằm viện, việc trao đổi với tôi về kế hoạch điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa… Linh Chi im lặng ngồi nghe, nét mặt không lộ một chút phản ứng. Như Quỳnh cũng im thin thít theo dõi, chẳng nói lời nào.
Linh Chi điềm đạm: Anh đã nói xong chưa, tới phiên em nói nhé!
Giọng Linh Chi cao dần lên: Các anh là đàn ông, nên lời nói sặc mùi gia trưởng! Các anh chỉ suy luận thế này, quyết định thế kia, có bao giờ các anh đặt mình vào vai trò phụ nữ để suy nghĩ không? Anh Chiến nghĩ người chồng phải có bề mặt xứng đáng với vợ, nhưng anh ấy có nghĩ, người vợ phải có chiều sâu xứng đáng với người chồng không? Phụ nữ chúng em yêu hình bóng anh bộ đội, không phải vì bộ đội dễ điều khiển như chúng em nói đùa trước đây, mà chính vì bộ đội đã hy sinh xương máu để bảo vệ sự bình yên cho chúng em, cho gia đình chúng em. Các anh đã chẳng tiếc tính mạng, thì chúng em đâu có thể sĩ diện mà không dám sống chung với người chồng bị thương tật do chiến tranh? Sau này, cu Thắng lớn lên, nó sẽ tự hào khi có cha đổ xương máu cho Tổ quốc, nhưng chắc nó sẽ buồn khi thấy mẹ nó bị cha đánh giá thấp quá!
Đưa tay quệt hai dòng nước mắt chảy ròng ròng trên má, Linh Chi tiếp: Tiếc là em chỉ gặp anh thôi, chứ gặp anh Chiến bây giờ, em sẽ tát anh ấy mấy cái về việc coi thường phụ nữ chúng em! Rồi sau đó, em sẽ lôi tuột anh ấy về nhà, cho gặp Bà Nội và cu Thắng, bắt anh ấy thực hiện đầy đủ nhiệm vụ làm con, làm cha của mình!
Có tiếng cười rúc rích của Như Quỳnh: Nhiệm vụ làm chồng nữa chứ! Cu Thắng đang thích có em mà! Chỉ tội cho riêng tao…
Linh Chi quay phắt lại nhìn tôi: Anh Chiến và anh định thu xếp cho anh lọt vào nhà em, thì em đã đóng sập cửa từ chối rồi! Sao anh không nghĩ đến gia đình Quỳnh, cũng yêu thương, mến chuộng bộ đội như gia đình em, có khác gì đâu? Quỳnh, tao giành lấy giò lan rừng, nhường anh Quân cho mày…
Tôi sững sờ, lúng túng nhìn Như Quỳnh. Tôi tưởng Như Quỳnh sẽ xù lông cánh lên, vặc lại Linh Chi, nhưng ơ kìa, lạ chưa? Mặt Như Quỳnh đỏ như gấc chín, em nhìn lảng ra chỗ khác, tránh cái nhìn đăm đăm của tôi.
Lòng rộn ràng mở hội, tôi tự nhủ trong lòng: Quỳnh ơi, hôm nay, nhất định em phải cùng về quê với anh nhé!

(viết nhân Kỷ niệm 40 năm Ngày Giải phóng Kampuchia 07/01)

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

Truyện ngắn 19

ĐẰNG SAU VÒNG HOA PHÚNG ĐIẾU
         Chiếc Vertu Signature S Rose Gold rung lên nhè nhẹ, cùng với khúc nhạc dạo đầu bài Le Beau Danube Bleu, báo hiệu có tin nhắn. Tôi chần chừ mấy phút, đưa đầu chải Mascara Extra Volume Collagen phết xong làn mi trái cho thật chuẩn (làn mi mà chồng tôi vẫn thường ví von làn mi của mẹ Cầm như của con gái tuổi băm, dù tôi đã lên chức Cố mấy năm nay), rồi mới với tay mở chiếc bao da điện thoại, thầm nhủ phải đổi bao da đà điểu thôi, loại bao da cá sấu này lỗi thời rồi. Tin nhắn ngắn gọn, không dấu, gói gọn trong 160 ký tự, đúng phong cách của chị Thanh, Hội trưởng Phụ nữ QB, nhưng nội dung làm tôi ngơ ngẩn mất mấy phút: chị báo tin bạn Minh Trân đã mất, cùng với thời gian tổ chức Lễ Viếng. Tôi bần thần nhớ lại, quá khứ sáu bảy mươi năm trước ào ạt kéo về...
Những năm 40 của thể kỷ 20, Nhóm Thất Tiên Nữ chúng tôi còn là những thiếu nữ đang tuổi cắp sách đến trường. Tuổi trẻ hồn nhiên, ngây thơ, ít so bì, chúng tôi đối với nhau thân thiết như chị em một nhà. Chị Thanh lớn nhất (do đi học muộn), được xem như chị Cả, thường đứng ra phân xử những tranh cãi nhỏ nhặt của các em. Tôi nhỏ tuổi nhất, lại sinh thiếu tháng vào cuối năm, mặc nhiên trở thành cô em út ít được cưng chiều của Nhóm. Chị Trân lớn hơn tôi hai tuổi, lẫn vào các chị còn lại như chị Thọ, chị Lê, chị Hiên, chị Bội... Tuy học cùng nhau nhưng kinh tế gia đình mỗi người một khác: cha mẹ tôi, với Cửa hàng Tơ lụa lớn nhất nhì thị xã ĐH, có thể chăm lo cho tôi theo những điều kiện tốt nhất. Trong khi các chị em thường tập văn nghệ chỉ bằng giọng hát, nhiều lắm là có tiếng kèn harmonica hỗ trợ, hàng tuần tôi vẫn học piano với gia sư hai buổi tại nhà, vì thầm chê loại đàn guitare, mandoline không quý phái bằng...
Trong thâm tâm, tôi công nhận giọng Nữ Trung của chị Trân khá ấm, dù về nhạc lý, chị chỉ biết võ vẽ. Cũng đúng thôi, cha chị Trân là trợ giáo, mẹ nội trợ, nuôi hơn chục miệng ăn trong nhà (hồi đó, xã hội đánh giá hạnh phúc gia đình qua số con cái trong nhà), làm sao gia đình có thể cho chị học những kỹ năng sống (theo cách gọi sau này) được? Thi thoảng, tôi thấy bất mãn khi nhiều anh (trong đó, tôi đặc biệt chú ý anh Nguyên Lộc, học trước chúng tôi mấy năm), thậm chí nhiều thầy giáo trong Trường, chăm chú ngắm chị Trân. Kỳ lạ thật! Chị thấp hơn tôi gần mười phân, đi guốc thấp, thường chỉ mặc dài trắng khi đi học hoặc áo bà ba khi ở nhà, ra chợ, so thế nào được với tôi chân dài, thắt đáy, lưng ong tha thướt (bây giờ gọi là dáng người mẫu) với quần áo trên người toàn hàng lụa Tô Châu?
Việc học hành ở trường, kết quả học tập cũng như nhau. Các gia đình Việt Nam hồi đó đều chủ trương cho con gái biết chữ là lấy chồng được rồi, học hết phổ thông là nhiều lắm, chứ học càng cao càng chống ề... Chị Trân học khá những môn hợp với nam giới, giờ Toán thường được gọi lên bảng chữa bài tập, khi thi tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp (BEPC), chị đạt 19.75/20 điểm Vật Lý, được ông Chánh Chủ khảo Hội đồng tuyên dương. Nhưng sau đó là chuỗi ngày đen tối của Chị...
Riêng tôi, vốn có khiếu văn chương từ cấp tiểu học, bài luận nào cũng đạt điểm cao, đến cấp trung học đệ nhất cấp, tài năng càng phát triển. Được sự khuyến khích của cha mẹ, anh em, tôi đã nghiền ngẫm hàng trăm tác phẩm văn chương trong Thư viện Gia đình, cả Thư viện Thị xã. Sang trung học đệ nhị cấp, tôi được Gia đình gởi ra học ở Trường Bưởi (khi đó đã đổi tên thành Trường Chu Văn An), trọ ở nhà Cô ruột ở phố Thụy Khuê (Cô lập gia đình, sinh toàn con trai, nên quý tôi như con gái ruột). Hồi đó không có Lớp Chuyên Ban, nhưng tôi đã nổi bật trong toàn Trường về môn Văn học, đã mấy lần được cử đi thi Học sinh Giỏi Văn toàn Thành phố Hà Nội. Tôi được tuyển vào học lớp Văn khóa I của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1951, đến khi tốt nghiệp được nhận về giảng dạy Văn học ở Trường Chu Văn An, nơi đã ươm mầm tài năng của tôi. Một vài năm sau thời kỳ Đổi Mới, tôi tập huấn ở Trường Viết Văn Nguyễn Du, bắt đầu có tên tuổi trên văn đàn với một số tác phẩm...
Chị Trân tham gia công tác Cách mạng từ những năm tranh tối, trang sáng ở tỉnh QB. Căn cứ theo khả năng học tập, Chị được phân công phụ trách lớp Bình dân Học vụ theo chủ trương Chống Giặc Dốt. Tôi nghĩ có nhiều học viên tham gia Lớp học không phải vì nhu cầu học tập mà vì muốn tiếp xúc với Cô Giáo dáng thấp nhỏ, có nụ cười hiền hậu, cuốn hút... Rồi sau đó nghe tin Chị bị Phòng Nhì Pháp bắt, tra tấn để truy ra tên tuổi người chỉ đạo phong trào. Tôi bàng hoàng suy nghĩ, không biết tấm thân liễu yếu, đào tơ như Chị làm sao chịu nỗi các đòn tàu bay, tàu ngầm... của bọn Phòng Nhì? Thế mà, các anh Khánh, Ngọc (trực tiếp lãnh đạo Chị) sau khi cẩn thận chuyển sang địa bàn mới, vẫn được cơ sở ở địa bàn cũ cho biết không ai sờ gáy đến... Một thời gian sau, không thu thập được chứng cứ gì, Chị được Phòng Nhì thả về nhà, nhưng bị quản thúc không được rời khỏi nơi cư trú trong thời hạn hai năm trời... Rồi cũng như những phụ nữ đến tuổi cập kê khác, Chị cũng lập gia đình dù có hơi muộn đôi chút, với một thầy giáo người miền Nam đã có một đời vợ...
Tôi vẫn quan niệm như người xưa, pha lẫn chút tư duy hiện đại: đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm. Điều tự hào lớn nhất của người phụ nữ, đối với tôi, là sự thành đạt của gia đình, từ đại gia đình của ông bà, cha mẹ, đến tiểu gia định của Chồng, Con. Cha Mẹ tôi, trong cuộc Kháng chiến chống Pháp, đã chuyển ra sống hẳn ở Hà Nội, tham gia tích cực Tuần Lễ Vàng được phát động khắp toàn quốc. Tên tuổi các Cụ được tuyên dương trên Đài Phát thanh Hà Nội, cùng với Bằng Liệt Sĩ của anh Cả tôi từ những năm đầu kháng chiến, nên trong công cuộc Cải cách Ruộng Đất nhiều điều tiếng, uy tín gia đình tôi (ở dạng Tư sản Yêu nước) vẫn không ảnh hưởng gì. Thông, em trai út của tôi, vẫn học tiếp Trường Cán bộ Công đoàn, khi tốt nghiệp nhận công tác chuyên trách ở Nhà máy Phân đạm HB. Hai con của tôi, dựa trên uy tín của Cha Mẹ (chồng tôi cũng hoạt động trong ngành Văn học, có một số tác phẩm khá phổ biến) cũng có chỗ đứng vững chắc trong xã hội: con trai đầu là Trưởng phòng OTK của Công ty May 10, con gái út (tự hào hơn) là Trưởng Bộ môn Toán của một Trường Đại học ở Hà Nội. Riêng tôi, với bằng Đại học Sư phạm Văn học khóa I, thâm niên mấy mươi năm giảng dạy, Ban Chấp hành Hội Nhà Văn Việt Nam mấy nhiệm kỳ, tôi có quyền ngẩng mặt tự hào với bạn bè, đồng nghiệp...
Một thời gian khá dài, do bận sinh kế gia đình khi đất nước còn khó khăn, do thiếu nguồn liên lạc, tôi vắng tin các bạn học ở đất QB khô cằn sỏi đá ngày nào. Đến những năm bước sang Thiên Niên Kỷ mới, Hội Phụ Nữ QB ở thủ đô mới hoạt động trở lại, đứng đầu vẫn là bà chị cả Thanh... Qua chị Thanh, tôi mới biết tình hình sinh sống của các bạn cũ, và đặc biệt của chị Trân: hết thời gian bị quản thúc, chị theo gia đình chuyển vào trong Huế, rồi lập gia đình với người thầy trước đây đã dạy kèm tiếng Pháp lẫn Toán, Lý cho Nhóm Thất Tiên Nữ - thiếu tôi (đã chuyển ra học ở Hà Nội). Chị có đến 7 con cả trai lẫn gái (trong đó có một cháu đã từng tìm đến nhà lúc tôi đi công tác vắng, hỏi chồng tôi địa chỉ của Thông em tôi, tìm đến tận khu tập thể cơ quan để chuyển thư và quà của anh Nguyên Lộc, hiện định cư bên Thụy Sĩ; Thông có kể cho tôi, tỏ ra rất cảm kích). Dù đã hoàn tất khóa Nữ Hộ Sinh ở Từ Dũ, Chị đã từ chối lời mời cộng tác với bạn cùng khóa, mở Nhà Hộ sinh tư (trước 1975, nhà hộ sinh KC lớn nhất nhì Huế), để dành thời gian chăm sóc chồng và 7 đứa con ăn học. Năm 1991, chị Trân bị tai biến mạch máu não do huyết áp cao, bị bán thân bất toại, phải nhập viện cấp cứu. Được Bệnh viện và Gia đình tích cực điều trị bằng Tây Y lẫn Đông Y, Chị đã tập đứng dậy, vịn vào các giá đỡ để tập đi được một thời gian, thì bị tai biến lần thứ hai năm 1997, từ đó nằm liệt giường. Hàng ngày, các con vẫn chăm sóc Chị, cho uống sữa, ăn cháo xay, phân công nhau trực thời gian không bận công tác…
Nhân một chuyến đi tham quan các tỉnh Miền Trung của Hội Nhà Văn, tôi có tranh thủ ghé thăm chị Trân. Chị vẫn phải nằm trên giường, không ngồi dậy được, nhưng vẫn tỉnh táo nghe tôi kể chuyện gia đình, thỉnh thoảng lại mỉm cười, gật gật đầu (tội nghiệp, còn đâu nụ cười duyên dáng mê hoặc lòng người ngày trước?). Tiếng chị nói hơi khó nghe vì âm không tròn, thỉnh thoảng con chị đang trực Mẹ (tôi có hỏi và biết chính là người đã tiếp xúc với Thông, em tôi ở HB) lại phiên dịch lời của Chị cho tôi nghe. Cuối cùng, tôi có hỏi một câu, chắc làm Chị suy nghĩ ít nhiều: Thế bây giờ chị Trân học được đến bằng cấp gì rồi, chắc là đau ốm khó có thể trau dồi thêm kiến thức, phải không? Tôi thấy Chị ngẩn ngơ, chớp chớp mát suy nghĩ, thì con của Chị đã trả lời: Thưa Dì, con xin phép được trả lời thay. Mạ con chỉ học đến cấp phổ thông, nhưng đã tạo điều kiện cho mọi thành công khác trong gia đình. Ngoài Ba con là nhân sĩ trí thức, mười bốn con cái dâu rể, thấp nhất là bằng đại học, còn tiến sĩ, phó giáo sư được dăm ba người. Tôi bàng hoàng với số liệu này (đánh đúng vào mục đích đối trọng của tôi), im lặng không nói gì thêm, thầm nghĩ với câu thành ngữ đằng sau thành công của người đàn ông là có bóng dáng của người đàn bà, mà với Chị là thành công của cả đại gia đình...
Sau chuyến đi tham quan này, tôi kể chuyện với Lê, bạn cùng nhóm QB ở thủ đô. Vốn là y sĩ, Lê nói thêm: Em chưa biết hết đâu. Chị làm ngành Y nên hiểu tận tường. Nằm liệt giường như chị Trân, có mấy ai kéo dài được năm bảy năm, với tình trạng loét da? Năm ngoái chị có vào thăm chị Trân trong Huế, sờ lưng chị ấy thấy mịn màng như da con trẻ. Tính đến lúc đó, chị bị tai biến 23 năm, và nằm liệt giường đã được 17 năm rồi. Có thể nói đây là kỳ tích trong việc điều dưỡng, Cầm ạ.
Thông tin gì cũng phải được kiểm tra đến đầu, đến đũa. Tôi gọi điện lại cho chị Thanh, xa gần mấy câu rồi hỏi luôn: Thế chị Trân mất vì lý do gì, có phải bị loét da không? Câu trả lời làm tôi sáng mắt: Không đâu! Con dâu, con gái là bác sĩ, đều xác định chị mất do suy tim, 93 tuổi rồi mà! Chiều thứ bảy còn bập bẹ hát Frères Jacques với con trai, đến tối thấy khó thở, loạn nhịp tim, và ra đi mờ sáng thứ hai.
Thế là mọi sự đã rõ ràng. Điều đáng tự hào của Chị, không phải là tuổi thọ 93, mà là 27 năm vẫn lạc quan chống chọi với chứng bán thân bất toại, với 21 năm liệt giường. Tôi nghĩ các con của Chị đã hết lòng chăm sóc Mẹ, giống như Chị đã hy sinh tất cả để chăm sóc cho Gia đình.


Tôi sẽ ghi nội dung gì trên điện hoa sẽ gởi vào viếng chị, để thể hiện lòng ngưỡng mộ của mình?

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Truyện ngắn 18

TRƯỚC ĐÁM CƯỚI BẠC

Hôm nay tôi ăn trưa một mình. Chồng tôi làm việc cả ngày ở Ban Đối ngoại Tỉnh, ăn cơm bụi ở căng tin, con đầu đã ăn sớm đi trực nhật lớp, con sau ở lại bán trú. Tôi trầm ngâm ngắm tấm thiệp mời đám cưới, tự nhiên đắng miệng không muốn nuốt miếng cơm, dù thường ngày ăn rất ngon miệng.
Tấm thiệp mời có hình thức đơn giản, trang trí khá trang nhã, không hiểu sao tôi lại thấy nặng nề như thế? Không phải vì đây là Đám Cưới Bạc – phú quý sinh lễ nghĩa, thời buổi này những người có điều kiện thường tìm cách tổ chức lễ lượt gặp mặt để bồi tiếp, thù tạc, mở rộng quan hệ, trả nợ ơn nghĩa – mà tôi quan tâm chủ yếu đến người gởi thiệp…
Chú rễ trong đám cưới Bạc này (gọi là chú rễ cho có ý nghĩa, chứ tuổi đã 62) là anh Khánh, đồng đội của cha tôi thời chống Mỹ. Sau ngày thống nhất đất nước, cha tôi tiếp tục tham gia Mặt trận Tây Nam rồi Mặt trận phía Bắc, đến 1986 hy sinh ở biên giới Hà Tuyên; còn anh Khánh chuyển ngành về học tiếp đại học sư phạm, dạy học mấy năm rồi chuyển sang quản lý. Tôi còn nhớ, trong đám tang cha tôi (hồi đó tôi mới học tốt nghiệp cấp 2), các đồng đội trong đơn vị cũ cha tôi đến viếng, tất cả đều mặc quân phục. Anh Khánh dáng cao to nhất, là trưởng đoàn, tự giới thiệu trước đây tôi là liên lạc của đại đội trưởng Thuấn (tên cha tôi) ở mặt trận Tây nguyênđến khi có người trong đoàn nói nhỏ, cả nhà mới biết anh đang là Giám đốc Sở. Anh làm Giám đốc Sở Giáo dục của Tỉnh một thời gian rồi ra Bộ, nhận trách nhiệm Vụ trưởng Vụ Tổ chức cách đây mấy năm, và chuẩn bị nghỉ hưu năm nay (theo quy định, tuổi nghỉ hưu là 60, nghe đồn anh quen biết nhiều ở Trung ương nên được kéo dài thời gian công tác thêm 2 năm, nay đã có thông báo chuẩn bị để hạ cánh…). Làm việc ở Hà nội, hàng tháng anh vẫn bay vào Huế dăm ngày, chị Chi vợ anh đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn xuân sắc lắm…
*
*  *
Nhìn đồng hồ, đã đến giờ đi làm buổi chiều rôi. Tôi nghe tiếng máy xe nổ không êm lắm, hình như đến hạn thay dầu nhớt rồi. Chiều nay phải nhớ ghé tiệm sửa xe gần nhà, thay luôn đèn pha bị hỏng. Đường vắng xe, tôi vừa chạy vừa miên man quay lại ký ức.
Tôi tốt nghiệp đại học sư phạm Pháp văn năm 1994. Mẹ tôi bảo có người nhắn tôi nộp đơn về Sở Giáo dục Tỉnh. Sau khá nhiều thủ tục hành chính, anh Khánh - khi đó là Giám đốc Sở, nhận tôi về làm trợ lý, kiêm Hành chính Văn phòng (thời đó giáo sinh sư phạm tốt nghiệp đều phải tự lo đi xin việc, bạn bè cùng khóa cứ tị nạnh tôi về ngôi sao chiếu mệnh sáng chói). Quỳnh là bạn thân tôi, hỏi nhỏ:chạy vào chỗ này hết bao nhiều? tôi ngẩn người chẳng biết nói gì, gặp dịp thăm dò, Mẹ đã nghiêm giọng: mối quan hệ này không thể tính được bằng tiền đâu, con gái ạ! làm tôi sợ run không dám hỏi tiếp, vậy mà Quỳnh, khi nghe thuật lại, đã diễn dịch ra ngay: chắc được tính bằng cây, bằng chỉ thôi… Tôi không dám bàn thêm, chỉ tự nhủ trong thâm tâm, mình có một món nợ ơn nghĩa với anh Khánh. Cũng theo thông tin bạn bè cho hay, Quỳnh nhận dạy ở huyện miền núi NĐ hơn mười năm, chạy vạy đủ kiểu mới được thuyên chuyển về huyện QĐ, cách Trung tâm Thành phố hơn 30 km.
Từ khi được tiếp nhận vào Sở, tôi cố gắng công tác thật tốt để tránh tiếng 5C (con cháu các cụ cả). Hơn 20 năm, tôi cố sức rèn luyện, trau dồi các kỹ năng nghiệp vụ, tích cực theo học các lớp nâng cao tay nghề, bổ sung chuyên môn, không ngại tham gia các phòng trào văn-thể-mỹ của cơ quan nên được nhiều người tín nhiệm. Tôi được bầu làm Tổ trưởng Công đoàn, rồi tham gia Ban Chấp hành Công đoàn, nhưng tôi nghĩ Công đoàn chỉ là bề mặt, về lâu dài vẫn phải bám vào chuyên môn. Sau nhiều năm phấn đấu, cùng ít nhiều cơ may, vị trí của tôi được phát triển dần lên Tổ trưởng chuyên môn, sau đó một thời gian dài, tôi được đề bạt làm Trưởng phòng Nghiệp vụ… Tất nhiên, mức phấn đấu (nói đúng ra là tham vọng) vẫn theo đà phát triển không ngừng nghỉ. Tôi và một vài người khác đang ngấp nghé chiếc ghế Phó Giám đốc Hậu cần mà người đương nhiệm đang chuẩn bị nghỉ hưu. Dù không nói ra, mỗi chúng tôi đều hiểu vấn đề nhân sự chịu nhiều tác động, ở bên Tỉnh ủy, và cả theo ngành dọc là Bộ Giáo dục – Đào tạo, mà cơ quan tham mưu là Vụ Tổ chức, đứng đầu là anh Khánh…
Hôm trước, anh Khánh tìm tôi đưa thiệp mời, giải thích rõ Đám Cưới Bạc này do các con anh chị đề xuất, mừng 25 năm ngày cưới, sau khi đã giải thích ý nghĩa Đám Cưới Bạc và thuyết phục anh chị đồng ý cho các con đứng ra tổ chức… Anh Khánh nói: khách mời là bạn bè, đồng đội của anh chị hiện sinh sống trong Tỉnh, riêng vợ chồng tôi là đại diện của đại đội trưởng Thuấn, thủ trưởng của anh ở mặt trận Tây nguyên. Một số khách đến từ Hà Nội, tranh thủ dự Đám Cưới Bạc của anh chị và thăm thú nhiều nơi nữa… Tôi cảm ơn anh, hứa sẽ thu xếp công việc để tham dự…
*
*  *
Tôi tự tập cho mình thói quen đánh giá con người một cách khách quan, không cảm tính. Chồng tôi vẫn thường trách tôi mang tính khí như đàn ông, có lẽ phải làm công tác Tổ chức mới đúng. Dắt xe vào hàng hiên, tôi cố giữ tỉnh táo để suy nghĩ tiếp về anh Khánh, người tôi sẽ tiếp cận…
Với mọi người, anh Khánh giữ được tiếng thanh liêm, nhưng nhìn vợ anh ăn diện đúng mode, đi lại bằng xe hơi đời mới, hai đứa con đi học nước ngoài, một đứa đã tốt nghiệp, làm việc ở Singapore, một đứa đang học ở Canada, tự tôi liên tưởng đến câu ngạn ngữ: Đằng sau sự thành công của người đàn ông, có bóng dáng của một người đàn bà và câu biến thể: Đằng sau người đàn ông thất bại là người đàn bà xúi dại. Tôi nghĩ ý nghĩa hai câu này như nhau: phụ nữ luôn phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của người bạn đời. Câu chuyện ông quan thanh liêm khi về hưu, trách vợ không đổi tuổi Tý của ông thành tuổi Sửu để nhận trâu vàng thay chuột vàng đã cũ lắm rồi. Quỳnh bổ sung cho tôi câu chuyện hiện đại hơn: Một người thưa với quan nổi tiếng thanh liêm, không hề nhận đút lót: “Tôi chịu ơn ngài, chẳng có gì để tạ ơn, chỉ có chậu mai gia bảo để tỏ lòng thành”. Chậu mai trông quá xấu, chẳng đáng gì, nên quan đồng ý nhận, vứt vào một xó nhà. Thời gian sau, có người đến thăm nhà quan, tấm tắc khen cái thế độc đáo của chậu mai, bàn riêng với vợ quan xin mua lại với giá rất cao. Mua bán xong xuôi, người này tìm đến người biếu chậu mai, cho hay: “Xong việc rồi nhé!”
Tôi không bao giờ quên, anh Khánh là người ơn của tôi: kết quả học tập của tôi không hơn gì Quỳnh, thế mà trong khi Quỳnh lao đao công tác khắp nơi, tôi vẫn ổn định công tác ở ngay Thành phố, cách nhà chỉ 10 phút xe máy. Tôi hiểu mối ưu tiên này xuất phát từ tình đồng đội của anh Khánh với cha tôi, và dù tôi có những nỗ lực đáng kể trong thời gian công tác, tạo được uy tín nhất định, nhưng tôi vẫn thấy rõ mình có quý nhân phù trợ Tuy nhiên, nếu khách quan đánh giá, tôi không thể khẳng định ân nhân của tôi là con người thánh thiện trong tất cả mọi chuyện…
Nếu cơ quan không chủ trương tiết kiệm triệt để, anh Khánh, với hàm Vụ trưởng của anh, vẫn có thể dùng xe hơi đi công cán. Nhưng hình ảnh chị Chi vợ anh hàng ngày đi lại trên chiếc Camry 2.5Q đập vào nhiều ánh mắt hiếu kỳ, nhất là những người chuyên ngồi lê, đôi mách… Một nhà nghiên cứu trong nước phân tích: để nuôi một chiếc xe hơi đi lại hàng ngày, bao gồm các phí gởi xe qua đêm, đường bộ, bảo hiểm xe và vật chất trong xe, đăng kiểm, xăng đi lại, gởi xe ngoài đường, quỹ bảo dưỡng, tổng cộng không dưới 7 triệu/tháng; vậy nếu không dùng xe để kinh doanh, thu nhập phải đạt tối thiểu 20 triệu/tháng… Chưa kể chi phí cho 2 đứa con ăn học ở nước ngoài, hoàn toàn ngoài tầm mức lương đơn thuần, dù của cán bộ cấp trung ương…
Nhưng, trông người rỗi gẫm đến ta…
Nghĩ lại quá trình công tác của mình, tôi có cảm tưởng mình như kẻ há miệng mắc quai. Nếu quả thật anh Khánh có những nguồn thu nhập đáng ngờ vực để đảm bảo cuộc sống như hiện nay, thì chính tôi cũng đã chịu ơn của anh, dù theo Mẹ tôi, chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ gia đình đồng đội, nhưng biết đâu có nhữnglobby (vận động hành lang) mà Mẹ giấu không cho tôi biết… Rồi Đám Cưới Bạc sắp tới đây, tôi phải đi quà như thế nào để vừa lòng cho Bên đưa đang muốn tiếp cận cho tương lai, Bên nhận đang chuẩn bị hạ cánh an toàn… Phòng làm việc của Phó Giám đốc Hậu cần vẫn mở cửa, nhưng tôi có cảm tưởng như đang ở thật xa, tận cuối chân trời...
Tôi gọi điện thoại tâm sự với Quỳnh. Con bé làm việc ở xa Thành phố mà như ma xó, việc gì cũng rõ: mày biết không, mấy năm trước, vợ chồng lão K.C. được bán hóa giá căn hộ ở chung cư LHP, lấy lý do con đi xa, nhà neo người, lão bán luôn, lời mấy trăm chai, chắc ăn đến hết đời mới hết. Ngôi nhà hiện đang ở lại cho Công ty Liên doanh thuê làm trụ sở, giá không mềm đâu. Tao còn nghe nói vợ lão còn cho sinh viên vay tiền nữa, sao mà đủ ngón kinh doanh thế không biết? Tôi thẫn thờ tắt máy, không muốn nghe Quỳnh liến thoắng nữa.
*
*  *
Buổi chiều, tôi làm việc như người mất hồn. Hết giờ, tôi phóng xe đến tiệm anh Phước gần nhà gởi lại xe, dặn sửa xong mang về nhà cho tôi. Chuẩn bị xong cơm nước, tôi bảo các con ăn trước, pha ấm nước chè xanh, nhâm nhi chờ chồng tôi về. Tối nay anh tiếp khách, không ăn cơm nhà, nhưng chắc chắn sẽ về. Hy vọng anh ấy sẽ giúp tôi nhiều ý kiến: thuận vợ thuận chồng, tát bễ Đông cũng cạn mà!
Chồng tôi vẫn giữ thói quen ăn bát canh buổi tối do tôi nấu, dù đã ăn đâu đó rồi. Tôi chờ anh húp xong bát canh riêu cua mới hâm lại, xỉa răng, chiêu ngụm nước chè, mới bắt đầu đề cập đến tấm thiệp mời Đám Cưới Bạc. Anh nhẩn nha cười:
- Anh Khánh chị Chi mời à? Đi chứ, anh cũng thu xếp cùng đi. Tôi ngớ người:
- Thế anh định đi mừng đám cưới thế nào? Anh lại mỉm cười:
- Thì cứ như mọi đám cưới khác. Đi một người thì ba trăm, đi hai người thì năm trăm. Tôi tròn mắt:
- Đám Cưới Bạc của Vụ trưởng sắp hạ cánh đấy anh ạ. Biết đâu là phi vụ cuối cùng? Anh lắc đầu:
- Anh Khánh hồi còn ở Huế là đối thủ ruột của anh trên sân quần vợt, anh biết rõ lắm. Chị Chi trước đây là Hội trưởng Hội Phụ huynh trường con mình học mà. Tôi nhíu mày:
- Nhưng anh có biết dư luận đồn đại về cuộc sống gia đình anh chị ấy như thế nào không? Em cũng đang muốn tìm hiểu kỹ hơn đây… Anh nhìn thẳng vào tôi, đôi mắt không còn vẻ cười cợt:
- Thế em muốn tìm hiều về chuyện gì? Lý do ngày trước nhận em về Văn phòng Sở hả?
Ông chồng tôi tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi thật. Chắc chắn thông tin anh biết không chỉ ở chuyện tôi nhận công tác ngày xưa. Đúng rồi, anh làm ở Ban Đối Ngoại mà, những thông tin tôi quan tâm đều có yếu tố nước ngoài cả. Tôi hỏi phăng dần từng manh mối, anh cứ tuần tự trả lời theo ký ức, chỗ nào không nhớ kỹ thì dở sổ ra, cuốn sổ công tác dày cộp mà anh luôn mang theo người trong chiếc cặp ngoại giao có khóa. Thông tin của anh cung cấp làm tôi phải há hốc miệng ngồi nghe:
…Chị Chi vợ anh Khánh đã nghỉ hưu 2 năm nay, đang làm Giám đốc Đại lý của Chi nhánh Hãng xe Toyata đặt tại Tỉnh mình, em đừng quên chị là một trong những người học tiếng Nhật đầu tiên của Tỉnh. Hình thức phải theo mode là đương nhiên, em đừng quên chị ấy cũng có vóc dáng chuẩn không thua gì em nhé (anh hơi né người, tránh cái nhéo tay của tôi). Chiếc Camry chị đi là của Hãng Toyota giao cho Giám đốc đại lý đi tiếp thị, hết hợp đồng thì trả lại… Thằng Hùng con đầu anh chị 8 năm trước là học sinh giỏi cấp quốc gia, sau khi tốt nghiệp phổ thông đã chủ động tìm học bổng trên mạng và tự thi tuyển, được cấp học bổng toàn phần 4 năm học ở Singapore, vừa đi học vừa đi làm, tốt nghiệp Thạc sĩ xong đang chuyển tiếp sinh Tiến sĩ ở Mỹ, hàng năm vẫn gởi tiền về giúp Ba Mẹ cho em du học ở Canada theo chương trình học bổng 901 của Chính phủ. Thật tình, anh chỉ muốn hai đứa con mình theo gương con anh chị Khánh Chi. Tôi bàng hoàng tiếp nhận các thông tin trái chiều nhưng quá rõ ràng, vẫn không bỏ sót những chi tiết khác: Tiền chênh lệch khi bán lại căn nhà hóa giá, anh chị gởi Ngân hàng, lấy tiền lãi thành lập quỹ HOPE hỗ trợ cho sinh viên Đại học Y Dược nghèo, hiếu học. Hàng năm, Hope chọn một sinh viên nghèo, có khả năng được mượn không tính lãi số tiền tương đương 100 USD, sau 6 năm học, ra trường làm việc sẽ trả lại tiền để Hope hỗ trợ cho khóa tiếp theo, như vậy sau này, mỗi năm có 6 sinh viên được mượn tiền tài trợ. Tôi ngờ ngợ: Tên Hope có vẻ quen quen… Anh cười: Em có nhớ, thằng cu nhà mình hồi hè khoe với Mẹ, được học bổng cho năm học này hơn triệu bạc, cũng của Hope đó: tiêu chuẩn dành cho học sinh do thành viên đơn vị cũ của ông ngoại cháu trực tiếp nuôi dưỡng… Anh kết luận: tập nhìn đời lạc quan đi em, đừng nhìn qua lăng kính màu tối nữa nhé!
Tôi không trả lời anh, vì đang hí hoáy nhắn tin cho Quỳnh: Chuyện đơn giản lắm, Quỳnh ơi! Tao đi dự Đám Cưới Bạc về rồi sẽ kể chuyện cho mày nghe. Thú vị lắm…

(thân tặng các em Minh-Phương)

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Truyện ngắn 17

TRĂN TRỞ MỘT ĐIẾU VĂN

Chưa bao giờ chồng tôi lo nghĩ như lần này, trông anh phờ phạc hẳn đi. Ngày mai, anh được cơ quan bố trí đi an dưỡng, nghỉ ngơi nhân dịp hè, vậy mà công việc từ đâu đâu lại kéo đến. Bệnh tim mạch của anh chịu tác động của hệ thần kinh giao cảm, cứ suy nghĩ nhiều thì huyết áp lại lồng lên như ngựa vía…
Sáng nay chủ nhật, anh Quý, Trưởng Ban Liên lạc Hội Cựu Chiến Binh (thật ra Hội này chỉ tự phát từ mấy anh em đồng đội cũ, muốn hằng năm gặp mặt để tâm sự, trao đổi những kỷ niệm buồn vui thời quân ngũ) điện thoại cho tôi, nội dung: biết anh đang tham gia tuyển sinh sau đại học, cắt mọi liên lạc, nhưng chiều nay Quý đi công tác nước ngoài rồi, nên báo chị nhờ anh chuẩn bị điếu văn đọc cho anh Thông, đồng đội cũ mới mất (đúng rồi, sáng sớm nay tôi xem VTV1 thấy có nêu tên Trương Đại Thông ở mục Cáo Phó). Ba ngày nữa làm Lễ Truy điệu. Vì anh Thông đã phục viên nên Hội Cựu Chiến Binh sở tại sẽ đọc điếu văn. Tôi cho biết ngày mai chồng tôi lại đi vắng, Quý cười bảo: Thì Quý ký hồ sơ nghỉ an dưỡng cho ảnh chứ ai. Văn hay chữ tốt, Hội này có mấy ai bằng anh, lại quen biết với anh Thông, anh được nghỉ ngơi càng có thời gian suy ngẫm, viết lách. Tôi đành nhận lời, thầm nghĩ đây là mảnh trời riêng của anh, mình phải ủng hộ trong mọi khả năng thôi.
Xế chiều, chồng tôi về đến nhà, tắm rửa qua loa rồi ngủ 1 giấc thẳng cẳng, bù cho mấy hôm thao thức theo đề thi. Buổi tối, nghe tôi báo lại yêu cầu của Quý, anh bần thần, pha một ấm trà đặc, ngồi tâm sự với tôi. Nhiều góc độ khác nhau trong mảnh trời riêng của anh bắt đầu hé lộ, cho tôi thấy những phức tạp trong cuộc sống tưởng như đơn điệu của đời bộ đội…
*
*  *
Thời điểm anh kết thúc huấn luyện, về đơn vị với quân hàm binh nhì, ông Thông (thường được gọi là Thông gấu, để phân biệt với anh nuôi Thông chuột) đã là trung đội phó, mang quân hàm thượng sĩ. Tuy cùng tỉnh, nhưng anh tránh lợi dụng cái mác đồng hương kiểu thấy người sang bắc quàng làm họ (mà tỉnh Bình Trị Thiên có nhỏ đâu, trải dài mấy trăm cây số lận), nên cũng chẳng gần gũi mấy với ông Thông. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là khi trung đội anh, được sự chỉ huy của ông Thông, bám trụ ở bản Cóc Xế, cột mốc 25, chống mũi vu hồi của địch suốt 1 tuần, lần lượt thương vong đến hơn nửa, đến khi được nhận lệnh tiểu đoàn cho rút lui, mới biết B phó cách đó 5 ngày đã bàn giao trung đội cho A trưởng A1 để đi viện vì cơn sốt rét đến rất đúng lúc!...
Mấy tháng chiến đấu ở biên giới Lạng Sơn đã xoay chuyển thời cuộc đến chóng mặt. Khi Trung đoàn trao giấy khen, quân hàm hạ sĩ với quyết định A-trưởng cho anh, ông Thông đã là trung úy, lần lượt thăng lên Đại đội phó rồi Tiểu đoàn phó Hậu cần (nhiều người dè bỉu sau lưng: bố Thông gấu suốt đời chuyên làm Phó, mà không giải thích nguyên nhân). Phải nói ông Thông có tài nắm bắt rất nhạy ý tưởng của cấp trên, dù chỉ là câu nói ngẫu hứng. Có lần Chính ủy Trung đoàn theo ông Thông đi thăm điểm chốt của Đại đội, trượt chân ngã oạch một phát, buột miệng: nơi này mà làm mấy bậc cấp để đi thì tốt quá! Thế là hôm sau, tiểu đội của anh được điều động dùng cuốc xẻng làm ngay mấy trăm bậc cấp, dù cuối cùng, lính tráng vác khối bê tông lên đỉnh đồi làm hầm vẫn bấm mũi giày vào đá cho dễ đi, sức đâu nhấc chân lên từng bậc cấp… Nước sông, công lính mà! Rồi câu vè của lính, trở nên sinh động hẳn lên vì được D-phó hậu cần Thông thực hiện răm rắp: đường sữa lương khô phân từ trên xuống, cuốc xẻng súng đạn phân từ dưới lên! Một thời gian dài, anh và đồng đội vẫn suy diễn lệch lạc như thế, cho tới ngày tiếp xúc với ông Vũ… Hành quân dã ngoại với các anh, ông Vũ cũng mang khẩu RPD nặng trịch với 2 cơ số đạn 1400 viên, giải lao vẫn ăn củ sắn luộc, ăn nói bỗ bã như lính trơn; cuối đợt hành quân, tình cờ anh mới biết ông Vũ là Tư lệnh trung đoàn…
Duyên nợ của anh với ông Thông còn dài! Một năm sau khi chuyển về làm giáo viên Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Thông Tin ở Nha Trang, anh gặp lại ông Thông, là học viên lớp Sĩ quan Trung cấp 2 năm. Dù ngày ở tiểu đoàn đã tránh không dự lớp Bổ túc văn hóa buổi tối của Trung đoàn (mà anh là giáo viên mời), nhưng bây giờ ông Thông săn đón anh hết mức, vì môn Toán anh đảm nhiệm là môn cơ bản hóc búa, phải được ít nhất 5 điểm môn Toán của anh Trung sĩ Giáo viên, ông mới có thể tốt nghiệp Sĩ quan Trung cấp với quân hàm Thiếu tá. Mối quan hệ đồng hương cấp Tỉnh (tưởng đã quên lãng trước đây) đã được ông Thông quảng bá đến mức tối đa, hầu như cả lớp đều biết mối quan hệ đồng hương, đồng chiến hào của hai người… Riêng anh cố cư xử đúng mức với ông: tổng kết, ông đã được điểm 5 (vớt) môn Toán như một số học viên yếu kém khác. Điểm khá giỏi thì quá tầm học lực của ông, anh vốn kỹ tính khi cho điểm…
Anh còn gặp lại ông nhiều lần nữa khi sinh hoạt Hội Cựu Chiến Binh đơn vị cũ. Ông Thông tham gia Hội là đương nhiên: phục viên với quân hàm Trung Tá, ông trở thành Hội viên danh dự, thường xuyên được mời chào trong các buổi gặp mặt. Hơn nữa, Hội tuy chỉ là tự phát nhưng có một số hội viên là cán bộ đương chức cấp Tỉnh, đã tham gia Hội là có điều kiện dễ dàng tiếp cận cấp lãnh đạo. Một lần, tình cờ thấy bức ảnh ông Thông cụng ly với một Hội viên đang là Phó Chủ tịch Tỉnh, được phóng to để trong trang đầu cặp hồ sơ mà thỉnh thoảng ông trưng ra nửa kín nửa hở, anh bật cười nhớ lại ngạn ngữ: non sông dễ đổi, bản tính khó dời! Ông Thông thường nhắc quan điểm của Mario Puzo qua lời của Vito Corleone, Bố già Mafia: các mối quan hệ xã hội được ví như lương thực ở Bắc Cực, có được thì cứ giữ: bây giờ chưa dùng, biết đâu mười, hai mươi năm sau sẽ dùng đến. Mà nghĩ cho cùng, con cái đã thành đạt, con trai là Phó Giám đốc Tổng Công ty Thủy sản xuất khẩu, con gái làm việc với Công ty Liên doanh với nước ngoài, ông còn mưu cầu điều gì qua các mối quan hệ nữa nhỉ?
*
*  *
Giờ tôi mới hiểu khó khăn của anh. Viết điếu văn, thường chỉ nêu lên những mặt tốt đẹp, thành công, ai lại nêu lên những mặt trái, dù đó đúng là bản chất người đã khuất? Anh cười gượng gạo, kể lại cho tôi: có người vợ khi nghe cơ quan đọc điếu văn về chồng mình “…thương tiếc một công dân liêm khiết, một người chồng chung thủy, một người cha trách nhiệm…” đã bảo nhỏ với con: “Con giở mặt kính quan tài lên xem, có phải Ba con đó không, hay họ nhầm?”… Anh thường dạy học sinh phải biết tôn trọng sự thật, mà nay mình viết điếu văn chỉ nói mặt tốt của ông Thông, hóa ra mình dối trá? Một nửa ổ bánh mì là nửa ổ bánh mì, còn một nửa sự thật là sự dối trá mà.
Chính tôi bây giờ cũng ân hận, phải gì mình đừng nhận lời anh Quý, để người khác lo chuyện này hay hơn. Tội nghiệp chồng tôi, sáng mai đi an dưỡng mà cứ lo canh cánh với mission impossible (nhiệm vụ bất khả thi) được giao. Tôi cũng không biết phải góp ý với anh nên như thế nào…
5 giờ sáng hôm sau, khi tôi bắc nồi xôi sáng cho cả nhà (cha con nhà này một giuộc, thích ăn xôi hàng ngày như dân Lào) thì anh có điện thoại. Tiếng chuông reo khác thường, nhỏ và ngân dài, hình như từ nước ngoài gọi về. Anh cầm điện thoại nghe, chỉ nói vắn tắt với tôi: anh Quý gọi (Quý đại gia mà, điện thoại luôn phủ sóng quốc tế) rồi lặng im một lúc lâu không nói gì, nhưng nét mặt đang đăm chiêu lại từ từ giãn ra thành nụ cười nửa miệng quen thuộc. Mười lăm phút sau, anh chỉ thốt ra mấy từ vô nghĩa: OK… chuột… không phải gấu… chắc chắn được mà. Anh quay lại, trầm ngâm nhìn tôi, rồi ngậm ngùi: Thương anh Thông-chuột quá: anh cũng mất trước ông Thông-gấu một ngày; anh Quý nhờ viết điếu văn là viết cho anh Thông-chuột. Anh thoát nạn rồi, em ạ. Điếu văn cho anh Thông-chuột thì dù không giao, anh cũng phải tham gia làm cho bằng được.
Anh pha bình trà mới, kể chuyện Thông chuột cho tôi. Một phần tò mò, một phần muốn chuộc lỗi đánh chữ tác thành chữ tộ khi nghe yêu cầu anh Quý nhờ, tôi lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào.
*
*  *
Lê Thông nhập ngũ cùng đợt với anh. Thấp bé nhẹ cân, thể lực B1, nhập ngũ là chết luôn biệt danh Thông=Chuột. Khi huấn luyện, Chuột được phát khẩu AK báng gập, chứ đeo CKC, chắc báng súng phết đất. Sang đơn vị chiến đấu, nhìn vóc dáng của Chuột, Chính trị viên định nhận về làm liên lạc cho Ban chỉ huy Đại đội, trong khi Chuột cứ năn nỉ xin về trung đội. Cuối cùng, khi phát hiện khả năng nấu bếp (trước khi nhập ngũ, Chuột nấu bếp ở Cửa hàng Ăn uống Diên Sanh, Quảng Trị), từ Ban Chỉ huy đến anh em chiến sĩ đều thuyết phục Chuột làm anh nuôi (càng hay, chứ làm liên lạc, ở cùng nhà Ban Chỉ huy, nghe đồng chí Thông, biết gọi đại đội phó hay liên lạc?)
Qua khó khăn mới thấy khả năng con người. Theo quy định, nấu bằng củi thì 1 nuôi quân phục vụ 20 chiến sĩ, thế mà những ngày Chuột đứng bếp đại đội, hai phụ bếp chỉ vừa làm vừa chơi, còn cơm dẻo, canh ngọt luôn đúng giờ. Về sau, Quản lý phân công Chuột chuyên đứng bếp chính, hai chiến sĩ chọn luân phiên từ mỗi trung đội hàng ngày chỉ lo kiếm thêm rau tàu bay, môn thục… để phụ trợ cho bếp ăn đơn vị. Đợt diễn tập toàn trung đoàn, đại đội được tuyên dương về mặt hậu cần, nhờ đôi quang gánh có thể nấu cơm khi hành quân của Chuột, nồi canh rau tập tàng Chuột hái tranh thủ dọc đường, nấu với mớ ốc do Chuột bắt dưới suối ngay khi đội hình dừng chân. Phải hưởng cái thú ăn miếng cơm nóng, húp ngụm canh ngọt, xỉa răng tanh tách trong khi chiến sĩ đại đội khác loay hoay kiếm củi, bắc bếp nấu cơm mới thấy cái khả năng tiềm tàng của Chuột.
Với sự gợi ý và tuyển chọn của chính trị viên, Đại đội thành lập Tổ nuôi quân 3 người, tổ trưởng là Thông-Chuột. Các tổ viên được tập huấn các công việc phục vụ hậu cần chung cho tập thể đại đội và độc lập cho từng trung đội. Tưởng là tập huấn chơi chơi, ai ngờ đến khi đánh nhau thực sự mới thấy giá trị. Trong đợt chống cường tập ở biên giới cuối năm 1979, quân địch chỉ ở cách một tầm đạn bắn, nên đại đội phải chia hẳn thành 3 trung đội, mỗi trung đội rải các tiểu đội bộ binh, hỏa lực trấn các ngọn đồi. Tiểu đội 1 của anh đóng quân gần địch nhất, chỉ mấy tầm lựu đạn: đạn dược trang bị đầy đủ, không sợ thiếu, chỉ mỗi tội đến trưa, nắm cơm sáng bay veo, lính chỉ uống nước cầm hơi. Anh tính đường đổ nước vào túi gạo sấy thì C-bộ phát tín hiệu chuẩn bị nhận cơm. Căng mắt ra nhìn mới thấy dưới lớp pháo địch bắn cầm canh, bóng một con chuột nhắt men theo đường mòn lủi lên, gần đến nơi thì nhận ra đúng là Chuột với chiếc ba lô bằng thân người, chứa đủ mọi thứ cơm canh. Anh ôm chầm lấy Chuột, cạ hàm râu lâu ngày chưa cạo vào đôi má nhem nhuốc bụi đất. Chuột xua xua tay, bảo còn mấy nơi phải đưa cơm tiếp… Nhìn cái bóng loắt choắt lủi tiếp sang đồi bên cạnh, anh thầm nghĩ có mấy ai thấy hết giá trị của Chuột?
Anh nhận được thông báo điều động về Bộ Tư Lệnh Thông Tin Liên lạc, ngay sau trận pháo của địch khóa đuôi của chiến dịch, với vết thương vào phần mềm của chân, không đi lại được. Lại cũng Chuột và một chiến sĩ tải thương khác cáng anh về Trạm Quân Y Trung đoàn ở hậu cứ. Chuột cười cười khi anh áy náy với tấm thân bồ tượng hơn 70kg của mình: nói anh đừng giận, chứ một mình em gánh rau lợn cho đơn vị nặng bảy tám mươi cân là thường. Một tuần sau, anh xuất viện về Trung đoàn bộ làm thủ tục chuyển về Hà Bắc rồi vào Nha Trang, với món nợ ân nghĩa canh cánh trong lòng: dò hỏi trong Trạm Quân Y, biết đơn vị máu tươi anh tiếp nhận được là từ chú đồng đội tải thương, có dáng loắt choắt như con chuột nhắt…
*
*  *
Mấy hôm sau, anh kể mọi chuyện cho tôi qua điện thoại (đúng là ruột để ngoài da, không chờ về đến nhà):

Trong đợt nghỉ, anh nhờ con trai đi xe máy về Trại An dưỡng đèo anh đi viếng 2 đám tang.
Đám đầu tiên ở Phú Bài, Huế: hai cha con anh như chìm trong đoàn người đi viếng, đông nhất là các Phòng, Ban, Ngành thuộc Tổng Công ty Thủy sản Xuất khẩu và các đơn vị trực thuộc, mà người trực tang ghi rất chi tiết: vòng hoa, trướng, liễn, hoa quả, số tiền viếng (một trăm ngàn đồng đi viếng của anh chắc chìm nghỉm trong bao nhiêu phong bì viếng khác). Nghe nói áo quan làm bằng gỗ pơ mú, giá đến mấy chục triệu đồng…
Đám thứ hai ở tận Diên Sanh, Quảng Trị lại khác hẳn. Có vài vòng hoa để trống, khách viếng chỉ cần nhờ viết tên lên băng tím cài vào rồi vòng hoa lại quay vòng. Lê Suốt, trưởng nam của Thông-Chuột (thay cha quản lý Cửa hàng Ăn uống Diên Sanh), đại diện Ban Lễ Tang đón tiếp anh và cùng thống nhất nội dung điếu văn. Thông báo được ghi trang trọng trên Bàn Tiếp Lễ và bên cạnh linh cữu, làm bằng gỗ pho lái đơn giản: Theo nguyện vọng cuối đời của người quá cố, tang quyến sẽ chuyển toàn bộ tiền phúng điếu cho Trại Trẻ SOS ở địa phương…


Tôi không nghe anh nói gì về nội dung điếu văn cho anh Thông-Chuột, nhưng tôi tin chắc rằng chồng tôi sẽ thay mặt các đồng đội, thoải mái nói lên tất cả tấm lòng của mình, rằng anh vẫn sống với dòng máu của Chuột trong cơ thể, trong khi Chuột đã ra đi với lòng tiếc thương của mọi người.