Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2009

Truyện ngắn 05

NGƯỜI BẠN YAHOO
Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Tôi bắt đầu thâm nhập vào thế giới Chat - tán gẫu trên Internet - từ lời khuyên của bạn bè trong giới Tin học. Theo nhận định của những người đi trước, thông qua Chat, tôi có thể tự hư cấu thành một con người mới, với một lai lịch hoàn toàn theo óc tưởng tượng của mình, mà chẳng ai kiểm tra được. Tôi giấu béng con người thật của mình - một trung vệ của đội tuyển bóng đá trường, với chiều cao khiêm tốn 182 phân và trọng lượng trên dưới 80 kg hơi (nghĩa là hơn 50 kg móc hàm, theo ngôn ngữ hàng thịt) - dưới cái tên yểu điệu thục nữ LienThongHoangThi (nghe có vẻ nữ tính lắm): tôi ghép họ của nhân vật nữ trong một nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, và tính chất Liên Thông (connected) trong Tôpô đại cương, môn học tôi yêu thích nhất trong những năm theo đuổi ngành Toán.
Ngày xưa, tôi rất mê kịch và đã tham gia đóng một vài lần hồi đi học. Tôi mơ ước biết bao được đóng một vai bạch diện thư sinh, mặt trắng môi hồng, nhưng tiếc thay, dù trình độ kịch nghệ có cao đến đâu, vai kịch có thuần thục đến đâu, tôi cũng chỉ được chọn vào những vai tướng cướp, hung thần… vì bề ngoài của tôi! Chẳng ai biết rằng bên trong cái vẻ bề ngoài ấy là tính nhút nhát đến ngớ ngẩn của tôi, đặc biệt là trước những người khác phái, có lẽ xuất phát từ nguồn gốc gia đình: ba mẹ tôi có đúng bốn cậu con trai lộc ngộc (người xưa gọi như thế là Tứ Quý, nhưng tôi chẳng thấy quý báu gì, cả 4 anh em mà chỉ chiếm có nửa vùng trời thôi!), nên mẹ tôi tuổi gần 60 vẫn được mệnh danh là hoa hậu của gia đình, và ngoài mẹ ra, anh em tôi chưa bao giờ cảm nhận được sự chăm sóc dịu dàng của phái nữ cùng lứa…
Tôi lại thật vô duyên, ngày trước chọn đúng ngành Toán để thi vào. Ở môi trường học Toán, con gái là hàng độc, luôn được xem như mì chính cánh. Lớp tôi hồi đó có được cô nào là biết bao nhiêu anh chàng đẹp trai, con nhà giàu vây chung quanh như gà trống xun xoe quanh gà mái rồi, đời nào đến phiên những tên cù lần của tôi? Có lần, một cô bạn cùng lớp - khá xinh xắn - chủ động làm quen, trò chuyện với tôi (báo hại tôi ngày nào cũng soi mặt mình suốt một tuần liền, muốn nứt cả gương), sau mới vỡ lẽ là cô ấy muốn nhờ tôi làm giúp bài tập lớn về Giải Tích Hàm! Sau lần đó, tôi buồn tình sáng tác luôn mấy bài thơ con cóc, nhưng đến khi nhờ mấy tên bạn học ngành Văn góp ý, thì được khuyên: cho tao mượn để viết bình luận đăng trên báo Tuổi Trẻ Cười… Sau khi tốt nghiệp, được giữ lại giảng dạy ở Trường, trình độ giao tiếp tôi vẫn không tiến bộ được chút nào. Gặp các đồng nghiệp nữ, tôi chỉ biết mở miệng khi nói về chuyên môn Toán (sau này lại nhảy sang tìm hiểu thêm Tin nữa, ngành anh em với Toán mà), mỗi khi câu chuyện bắt đầu xoay sang khía cạnh thân mật thì tự nhiên tôi mắc chứng cà lăm, thật khổ! Những khi giảng bài trong lớp, chỉ cần các cô nữ sinh viên trêu đùa một câu là tôi đỏ mặt tía tai, không còn bình tĩnh nữa, nên ngay từ buổi dạy đầu tiên, tôi phải tự tạo cho mình một bộ mặt nghiêm nghị, để che dấu yếu điểm của mình, và được thiên hạ gọi là ông cụ non
Bây giờ, tôi hy vọng tràn trề, biết đâu thông qua thế giới Chat này, khi giao tiếp không bị ngoại cảnh chi phối, mình có thể tĩnh tâm suy nghĩ trước khi mở lời, từ đó mới có thể tìm được một bạn tâm tình? Tôi chưa dám nghĩ đến một bạn khác giới, chỉ mong sao có được một người thông cảm được với mình, chia xẻ được tâm trạng, những nỗi băn khoăn, suy nghĩ của mình là được rồi. Tôi nghĩ, người ta thường dễ dãi với con gái, nên tôi khởi đầu bước làm quen bằng cách giả dạng phái yếu (đối với tôi, họ chẳng yếu đâu, mà mạnh hơn tôi nhiều!) là phải đạo.
Vào cuộc, sau một vài lần đưa những đường bóng thăm dò (tôi quen dùng ngôn ngữ bóng đá), tôi bắt đầu nhận được vài đường bóng phản hồi. Buồn năm phút: chẳng có bà chị, cô em nào chịu làm quen với LienThongHoangThi hết trơn, thư trả lời (dĩ nhiên, tôi chỉ chọn thư trả lời tiếng Việt, vì không có mộng quen Tây) chỉ có cánh đực rựa, với đủ loại biệt danh (nickname), hết ChuSoiCoDon (Chú Sói Cô Đơn), đến Terminator (Kẻ Hủy Diệt), lại NguoiLangTu (Người Lãng Tử), có người tự xưng là Típ Phờ Nờ - TYPHN (Tôi Yêu Phụ Nữ - bắt chước nhà văn Đái Đức Tuấn) mới ghê chứ!
Sau một vài trận giao hữu (tán gẫu qua-về), suy đi nghĩ lại, tôi chọn một đối tượng mang biệt danh khá quý tộc: Cesar, để đặt quan hệ chat lâu dài (dĩ nhiên, khi đang tán chuyện, có ai chen vào nói chuyện, chúng tôi cũng tảng lờ). Tôi hỏi: tớ (dù lỡ làm con gái, tôi vẫn muốn xưng hô ngang hàng) đoán cậu chọn tên Cesar theo lời của Chúa “Hãy trả lại cho Cesar những gì của Cesar” phải không? thì được trả lời: không phải, Cesar đây có nghĩa là mổ lấy thai, mẹ tớ phải được mổ lấy thai mới sinh ra tớ, tớ chọn tên này để nhớ đến mẹ. Nghe nói có vẻ có hiếu lắm, hy vọng hợp với mình. Biết đâu qua cậu ta, mình lại quen được cô nào đó cũng hiếu đễ, dễ thương như vậy?
Chúng tôi cùng thoả thuận sau đề nghị của tôi: mỗi tuần sẽ chat với nhau vào hai tối thứ ba và thứ bảy, sau 7 giờ tối, vì các tối thứ hai, thứ tư, thứ sáu, tớ phải học thêm ngoại ngữ, còn tối thứ năm và chủ nhật, tớ bận đi tập thể dục nhịp điệu (tí nữa tôi nói thật là bận đi dạy võ ở lò Cương Nhu Karaté, lộ bem mất). Cesar cũng đề nghị tôi thống nhất gõ thêm các phụ âm theo ký hiệu Telex để hiểu đúng tiếng Việt – tuy hơi dài dòng một tí nhưng tránh được việc hiểu nhầm - và lấy ví dụ khá ấn tượng: một anh chàng đi xa, nhận được tin bạn nhắn không có dấu, tưởng là “Tao đến thấy vợ mày ôm một thằng, rất gay…”, sau hỏi lại, hoá ra là “…ốm một tháng, rất gầy…”. Tôi hứng chí, định hồi âm lại một ví dụ khác không kém sinh động: có ông chồng nhắn tin trên điện thoại di động cho vợ “anh đang ở trường, muộn lắm rồi, em đến ngay”, được vợ trả lời “lợn bị đau, không đến được”, nếu không có dấu thì Cesar đọc ra cái gì? nhưng nhớ lại mình đang đóng vai con gái đoan trang thuỳ mị, nên đành phải cho qua…
Ban đầu, tôi giới thiệu sơ lược về mình như sau: ba mẹ tớ đã mất từ lâu, tớ đã ly dị với chồng, hiện đang sống với cậu con trai 6 tuổi (hoàn toàn do tôi hư cấu), là giáo viên khoa học cơ bản của một trường đại học ở khu vực miền Trung Việt Nam (điều này thì có thật). Theo Cesar, ba mẹ cậu ta (đều đã về hưu) có hai con là cậu và một cô em gái, đều chưa lập gia đình; cậu mở một cửa hàng dịch vụ game - internet, nơi cậu thỉnh thoảng ngồi chat; em gái của cậu, nhỏ hơn 1 tuổi (cậu cùng tuổi với tôi), là bác sĩ của một bệnh viện, đều là tem chưa đóng dấu (còn độc thân), cả nhà đang sống tại Thành phố Huế. Những chi tiết cuối cùng này làm tôi mừng rơn, nhưng không dám lộ rõ ý đồ đen tối của mình, chỉ bảo lửng lơ: tớ hy vọng sẽ có dịp làm quen với các thành viên trong gia đình của cậu.
Khi được hỏi chi tiết, tôi tự hư cấu một hoàn cảnh khá cụ thể: chồng tớ đi lao động xuất khẩu ở Đức, ở lại bên đó luôn, tớ không muốn nhắc đến nhiều (thật ra, tôi sợ nói nhiều bị hớ), về đứa con, tôi lấy ngay hình ảnh thằng cháu ruột, con ông anh họ để tả: trường học, thầy cô giáo, tính cách, sở thích… đúng y chang một chú nhỏ mới lớn, chẳng sai vào đâu được. Tôi cũng lo ngại Cesar lại như tôi, tưởng tượng ra một cô em gái nào đó, nên thăm dò thật kỹ về gia đình, và nhất là cô em gái, và được biết: tốt nghiệp y khoa đã hơn 5 năm, vừa đi tu nghiệp ở Pháp về năm trước…
Ngày hôm sau, tôi lập tức tham vấn ở mấy cậu bạn bên ngành y khoa, buổi chat sau lại check Cesar thêm mấy chi tiết về cô em: sau khi tốt nghiệp đa khoa, em gái tớ học bác sĩ nội trú Ngoại, rồi được đi thực tập sinh ở Pháp. Về nước năm ngoái, đang chuẩn bị ôn thi tuyển Cao học ở Đại học Y khoa Huế, và thấy chẳng có gì đáng ngờ nữa: tôi dọ hỏi rõ ràng, kỳ thi tổ chức vào cuối tháng 4 hàng năm, Nhà trường hiện đang chuẩn bị tập trung thí sinh để ôn thi. Cô ấy có là em của Cesar, hay em của Napoléon cũng được, miễn là nhân vật có thật, thì tôi có hy vọng rồi…
Tôi mở đường bóng lật cánh: tớ đang chuẩn bị thi nghiên cứu sinh đi Pháp đây, chuyên môn tớ không lo, mà tớ lo ngoại ngữ quá. Cesar sốt sắng: để tớ hỏi ý kiến em gái tớ, rồi cho cậu địa chỉ e.mail của nó, cần gì thì các cô cứ trao đổi với nhau, vốn liếng tiếng Pháp của em tớ cũng khá đấy. Có ai ngờ, mọi việc xuôi rót như thế đâu? Tôi thấy trong lòng như đã mở hội rồi, nhưng nghĩ lại, tội gì chỉ chọn đấu pháp thụ động phòng thủ mà chẳng tấn công, quả bóng đã được lật cánh chuyền vào, thì phải bật cao lên để đánh đấu vào cầu môn thôi: Tại sao cậu không nghĩ, em gái cậu giúp tớ ôn tiếng Pháp mà tớ chẳng giúp gì lại được? cậu có biết tớ giảng dạy ngành gì không? Toán! Môn Xác suất Thống kê mà thí sinh Cao học ngành Y phải thi, cũng là môn cơ sở trong ngành Toán của tớ, và bàn thắng đầu tiên kể như được ghi, dù chỉ mới đá trên bàn, bằng câu nhận xét đầy ý nghĩa của Cesar: nghĩa là cậu muốn trao đổi trên quan điểm hai bên cùng có lợi phải không? tớ nghĩ em tớ sẽ OK…
Qua trung gian của Cesar, mối quan hệ “celui qui sait bien chatter est un bon chatteur” (chơi chữ theo văn phạm tiếng Pháp - người biết chat giỏi được gọi là chat sĩ – trên các trang Web) với cậu anh Cesar được thay dần bằng quan hệ trao đổi bằng thư điện tử để chuyển tải được những nội dung súc tích hơn, có thêm đối tượng là cô em của Cesar (tôi mới chỉ biết địa chỉ cô ấy là
cesarienne@yahoo.fr, người dùng tiếng Pháp mới lấy địa chỉ này), cô gái cho hay, khi mẹ sinh ra cũng phải mổ lấy thai như anh Cesar vậy.
Tôi thầm cám ơn các chuyên gia Tin học ở Việt Nam đã kịp phổ biến bộ mã Unicode cho thế giới internet tiếng Việt, nhờ đó tôi yên tâm không bị cô ấy hiểu lầm (như ví dụ tai ác đã nói ở trên). Tôi vẫn chưa dám nói chuyện gì thân mật trong thư (đương nhiên, phải gởi về cả hai địa chỉ của Cesar và cô em), nhưng kể từ khi tiếp xúc được với Cesarienne, bên cạnh việc ôn tập chuyên môn cho kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh, tôi còn tự dặt mục tiêu giải thật nghiêm chỉnh những bài tập Phương trình Vi phân và nhất là Xác suất Thống kê trong chương trình ôn thi Cao học Y khoa, tôi lần lượt soạn các bài giải bằng ngôn ngữ AMSTEX quen thuộc của dân làm Toán, rồi chuyển hẳn sang file *.pdf để gởi kèm theo mail cho cô ấy in trên máy laser. Ngược lại, hàng tuần Cesarienne cũng sửa giúp tôi những bài khoá tiếng Pháp mà tôi đã soạn, hướng dẫn cho tôi cách gõ các dấu tiếng Pháp như ç, î, ï… bằng phím nóng (hotkey) trên bàn phím QWERTY (tiếng Anh), chúng tôi tập gởi thư điện tử cho nhau bằng tiếng Pháp để trau dồi ngoại ngữ, riêng tôi hạ quyết tâm học hết chứng chỉ DELF để có đủ vốn ngoại ngữ khi ở nước ngoài…
Tôi và Cesarienne cũng trải qua kỳ thi tuyển cùng một thời điểm, cùng một Hội đồng Đại học Huế. Trước đó, chúng tôi vẫn thống nhất chỉ tiếp xúc bằng thư điện tử để trao đổi những nội dung cần thiết phải hỗ trợ cho nhau (con chim xanh Cesar đã thưa viết thư cho tôi, sau khi báo sẽ về quê một thời gian dài để lo việc nhà, tôi đã có thể liên lạc riêng với cô em). Tôi vượt qua kỳ thi tuyển nghiên cứu sinh khá suôn sẻ, vì đối thủ duy nhất của tôi đã bỏ cuộc sau khi gãy môn thi cơ sở đầu tiên, nhưng tôi vẫn làm bài thi môn chuyên ngành và đặc biệt ngoại ngữ tiếng Pháp với mọi khả năng của mình, tôi muốn cho Cesarienne thấy rõ thành quả đào tạo của cô ấy. Xem kỹ đề thi Xác suất Thống kê vào Cao học Y khoa, tôi tin chắc cô giáo dạy hàm thụ tiếng Pháp của mình làm được bài khá dễ dàng, vì nội dung đã được tôi hướng dẫn chu đáo, nếu không muốn nói là trúng đến 75% đề thi. Cesarienne cũng báo cho tôi biết, cô thi tốt các môn thi cơ sở và chuyên ngành, việc trúng tuyển có lẽ chỉ phụ thuộc vào thời gian, vì số lượng thí sinh thi tuyển vào Cao học còn ít hơn chỉ tiêu tuyển sinh Bộ giao cho Đại học Huế. Sau đó một vài tuần, tôi cũng đã qua đủ 6 mức chứng chỉ DELF do Trung tâm Ngoại ngữ của Đại học Sư phạm Huế tổ chức, kết quả tuy không thật xuất sắc những cũng đủ để tôi báo công với cô giáo của mình…
Vấn đề cuối cùng là việc bày tỏ chân tướng của mình. Tôi quyết định gởi thư riêng cho cậu anh Cesar trước, thú thật giới tính của mình cùng nguyên nhân đội lốt phụ nữ bấy lâu nay và, với tư cách là cánh đàn ông với nhau, nhờ cậu lựa lời giải thích cho cô em hiểu và chấp nhận lời giải thích của tôi cùng mong muốn một buổi gặp mặt cả ba người. Một thời gian khá dài, không hiểu vì sao, tôi không có hồi âm của Cesar (có lẽ cậu ta bận việc nên không mở mail), tôi phải đánh tiếng hỏi cô em gái ông anh Cesar bây giờ thế nào, mà không thấy trả lời thư, thì mấy hôm sau mới được cậu hồi âm. Cậu bảo Cesarienne chê tôi: ngốc quá, giấu chân tướng dở ẹc, trong mấy bài texte tiếng Pháp tôi soạn nhờ sửa, cả trong thư trao đổi, các tính từ phẩm chất (adjectif qualificatif) nói về bản thân đều dùng toàn giống đực (masculin), đến ngày 8/3 còn gởi mail chúc mừng cô nữa. Nhưng cũng không sao, cô ấy đã đồng ý hẹn tôi gặp tôi vào 8 giờ sáng chủ nhật tới đây tại quán kem sau Thư viện Đại học Khoa học, lúc đó cô vừa kết thúc phiên trực. Ký hiệu nhận dạng: cầm trên tay một cuốn tập san của Đại học Huế số mới nhất… César cáo bận không đến, bảo cô em sẽ giải thích lý do.
Buổi gặp mặt đầu tiên của chúng tôi không ngờ trắc trở đến như thế!
Từ tối hôm trước, tôi chọn chiếc áo chemise màu xanh hy vọng và quần gabardine sẫm màu mới may, nhờ mẹ ủi thật kỹ lưỡng, tôi muốn Cesarienne có ấn tượng tốt đẹp về hình thức của tôi trong buổi đầu gặp mặt, ngay cả cuốn Tập san Đại học Huế mượn của Khoa, tôi cũng bọc bìa nylon cẩn thận. Tôi đến Thư viện thật sớm, từ 6 giờ 30 sáng, nhưng không dám đến ngay quán kem đã hẹn, chỉ ngồi ở quán café quen thuộc, nằm đối diện bên kia đường Lê Lợi để trông sang. Tôi giấu biến cuốn Tập san Đại học Huế (quan trọng lắm, mất là nguy to) trong túi vải, dự định chỉ đến giờ G. mới đưa ra ngoài…
Tôi đang suy nghĩ miên man, không biết sẽ nói chuyện gì với Cesarienne sáng nay thì giật mình vì tiếng phanh xe ken két đến rợn người rồi nghe huỵch một tiếng, tôi thấy rõ ràng ngay trước mặt mình, một chiếc Attila láng coóng đâm sầm vào một chiếc xe đạp, hất đổ xuống đường, cụ già trên xe ngã vật ra rên rỉ, chiếc Attila lách sang một bên phóng tiếp, tôi nhảy vọt qua bàn café, lao vụt ra chận đường, hô to: đứng lại! Chiếc xe lại hung hãn rú ga tăng tốc, lao thẳng tới, chênh chếch bên trái người tôi. Thế tự vệ thuần thục trong huấn luyện được tôi thực hiện như bài tập mẫu: chân trụ rê sang phải nửa bước thành thế tấn migi ko kutsu dachi, tôi tung cú đá hidari yoko geri ke komi tống trúng vai người lái (đội mũ, đeo kính râm, tôi nhìn không rõ mặt), chân trái vừa hạ xuống thành thế tấn nego ashi dachi, tay chuẩn bị ra tiếp đòn gõ uraken uchi, tôi thấy chiếc xe lảo đảo rồi quay ngược 180o, lao nhanh theo đường Lê Lợi còn vắng tanh, chỉ mới loáng thoáng bóng người, vẳng lại tiếng chửi thề thô tục... Mọi việc xảy ra trong chỉ vài giây, nhưng đủ để tôi kịp ghi số xe vào bộ nhớ… Chủ quán chạy ra, tôi đọc lại số xe gây tai nạn và tên tôi làm chứng, nhờ giữ chiếc xe đạp của ông cụ, để tôi chở ngay ông cụ đến bệnh viện cấp cứu…
Đến khi làm xong thủ tục bàn giao ông cụ (đã khá tỉnh táo, người nhà cũng vừa kịp đến, đang rối rít cám ơn tôi) cho bác sĩ trực ở Phòng Cấp cứu, nhìn lại đồng hồ đã hơn tám rưỡi, tôi hoảng hốt tìm túi vải của mình mà ai đó đang giữ hộ, chào mọi người, rảo bước ra ngoài, chẳng kịp rửa mặt mũi, vừa chạy vừa lấy cuốn Tập san Đại học Huế ra cầm trên tay. Một người chận tôi lại, hoá ra là cô bác sĩ trực hồi nãy nhận bệnh, giờ cô thay bộ blouse trắng bằng chiếc pull-over vàng nhạt, quần jean trông xinh hẳn, tôi nhìn kỹ mới nhận ra (thật tương phản với bộ cánh lem luốc của tôi sau cuộc ẩu đả). Cô nhìn tôi vài giây rồi bảo: Anh đi đến chỗ này với tôi, có việc cần! Tôi luống cuống: Xin lỗi bác sĩ, tôi đã làm thủ tục xong, giờ có việc gấp, xin phép… Cô mỉm cười: Tôi cũng bận y như anh vậy…, tôi tròn xoe mắt, đến khi nghe tiếp: …Cesar và Cesarienne chỉ là một người…, và nhìn cuốn Tập san Đại học Huế trên tay cô gái, tôi mới chợt hiểu...
12/2003

Truyện ngắn 04

TRƯỚC CỔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC…
Truyện ngắn của Quỳnh Anh

1. Tâm sự của người cha:
Việc chuẩn bị thi đại học của con gái tôi đã được cả nhà tính toán từ 3 năm trước đây, khi cháu đang còn học lớp 9, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông cơ sở.
Trước hết là việc chọn trường phổ thông trung học để thi vào. Tôi không thích con tôi thi vào những lớp chuyên, chỉ muốn cháu học lớp phổ thông, để tập trung học những môn sau này sẽ thi đại học (trước đây, thiếu gì những học sinh thuộc lớp chuyên lại thi rớt tốt nghiệp phổ thông, kể như được miễn thi đại học!). Vợ tôi, thực tế hơn, tính nhẩm độ dài khoảng đường mà cháu phải đạp xe đến trường (dưới trời nắng chang chang mùa nóng hay lội trong nước bạc mùa lụt) xem trường nào gần nhà, ở vùng ít ngập nước để ưu tiên chọn thi vào (cô ấy quên mất trường chuyên cấp phổ thông cơ sở Nguyễn Tri Phương của Huế thường xuyên ngập trong nước lụt mỗi khi mưa to). Con gái tôi, đơn giản hơn, không nghĩ đến những chuyện xa xôi, chỉ thăm dò ý kiến các bạn trong lớp cũ, xem có thể gặp lại nhau trong cùng một trường cấp 3 để kết thành hội hay không…
Cuối cùng, kết quả tuyển thi vào trung học phổ thông được yết. Trừ hai học sinh đã xuất sắc đậu vào phổ thông Quốc Học từ đợt tuyển trước, lớp của con tôi, dựa trên nguyện vọng và kết quả thi tuyển, được rải đều khắp các trường Nguyễn Huệ, Hai Bà Trưng, Gia Hội, một số khác phải về các trường bán công. Nhờ 1 điểm được cộng thêm vì tốt nghiệp loại Khá, con tôi đạt vừa đủ điểm chuẩn vào trường Nguyễn Huệ, ngôi trường 30 năm trước đây mẹ cháu đã học với cái tên thơ mộng: Nữ Thành Nội. Tôi tự nhủ: may thật, từ mấy năm nay, tỷ lệ đậu đại học của học sinh trường Nguyễn Huệ cao lắm, nhưng vẫn nhắc con mình: ý thức học tập của con là quan trọng nhất…
Tôi vốn rất ghét các lớp dạy thêm ở nhà: thời của tôi, chẳng cần học thêm, học bớt gì, chỉ cần nắm chắc bài vở trong trường là có thể tốt nghiệp Tú tài bán phần, toàn phần, rồi trúng tuyển vào đại học. Thế mà bây giờ, trước phong trào “thi đua dạy thêm & học thêm” - như câu vè dầy châm biếm: “(dạy) học ngày không đủ, tranh thủ (dạy) học đêm, (dạy) học thêm buổi sáng, (dạy) học ráng buổi chiều, (dạy) học liều ngày chủ nhật, (dạy) học lật đật ngày thứ hai, (dạy) học lai rai cả tháng…” - trong cả nước, dồn vị trí những lớp dạy chính khoá ở Trường vào ngõ hẹp, tôi đành phải lắc đầu chịu thua, gởi con tôi đến một bạn học ngày trước, hiện là giáo viên có uy tín trong ngành Toán, có mở lớp dạy thêm ở nhà; rồi từ đó con tôi tham gia thêm các lớp Văn, tiếng Pháp do bạn tôi giới thiệu (đủ các môn khối D3), vì từ lâu cháu đã muốn theo đuổi việc học tiếng Pháp như tôi trước đây. Thời khoá biểu của cháu, nhất là từ năm lớp 11 trở đi, kín mít từ đầu đến cuối tuần, chỉ còn một vài buổi tối thư giãn…
Vợ tôi, với tư cách là Chủ nhiệm Hậu cần của gia đình, từ đầu năm lớp 12, đã chú ý bồi dưỡng cho con tôi để có sức theo đuổi các lớp học chính khoá và ngoại khoá. Tôi nhẩm tính sơ qua, tiền bồi dưỡng hàng ngày cho con tôi (bơ, thịt, đường, sữa, trứng gà… đủ loại, cứ như vận động viên quốc gia) gần bằng cả tiền ăn cho 3 người còn lại (hai vợ chồng và cu Bi, hiện học lớp 7, may là không phải năm thi của cháu), ban đầu trông con tôi ăn còn thấy ngon miệng, nhưng dần dần chán ăn và thể trạng vẫn ngày càng sút! Tôi đoán nguyên nhân do cháu thiếu ngủ: mỗi đêm cháu học và ôn bài đến 12 giờ, vậy mà có những buổi sáng phải học thêm từ 5 giờ 30 đến 7 giờ sáng. Cháu kể, có những lớp học thêm, đến trước cả 30 phút đồng hồ mà vẫn ngồi gần cuối lớp đông gần trăm học sinh, gặp trời u ám càng khổ, vài ngọn đèn néon 1.20m chẳng toả sáng được bao nhiêu. Tôi bảo cháu nhường chiếc xe đạp Trung quốc cho cu Bi, mua cho cháu chiếc xe đạp Nhật, đạp cứ nhẹ như không, nhưng mỗi ngày đạp đi, đạp về hơn 10 km để học chính khoá, chạy show học thêm, không phải là đơn giản…
Cu Bi được Ba Mẹ làm công tác tư tưởng, đã thay hẳn chị làm việc vặt vãnh trong nhà: nhặt rau, vo gạo khi Mẹ nấu ăn, phơi phóng khi Mẹ giặt giũ, múc nước khi Mẹ lau nhà, đôi khi còn giúp tôi đánh trên máy vi tính giáo trình đã soạn. Đôi khi, con gái tôi tâm sự: cháu phát ghen với cu Bi về những giây phút cười đùa thật sảng khoái, những giấc ngủ ngon ngáy như kéo gỗ, trong khi cháu vừa học xong lý thuyết Toán buổi sáng đã phải làm bài tập Tiếng Pháp cho buổi chiều, và chuẩn bị bài bình văn sáng ngày mai. Quả thật, tôi thấy cháu như một cái máy, dung nạp đủ thứ kiến thức vào trong người mà chưa tiêu hoá kịp (cu Bi cứ hay trêu chị là loài bò, đang ăn cho thật nhiều và chờ đến kỳ thi để … ợ ra và nhai lại).
Cuối cùng, điều phải đến đã đến. Dự xong buổi cuối cùng kỳ thi tốt nghiệp phổ thông, ngồi trên xe tôi đón về nhà, cháu hoa cả mắt, suýt té ngã mấy lần. Tôi dự đoán cháu kiệt sức sau mấy tháng trời học tập vô cùng căng thẳng, nên đưa cháu đi khám bệnh luôn. Ở bệnh viện, cháu được chẩn đoán là bị suy nhược thần kinh nặng! Nghĩ cũng hợp lý thôi, hơn một năm trời, đúng vào tuổi ăn tuổi ngủ mà cháu chỉ dành 5-6 tiếng đồng hồ ban đêm và 15-20 phút buổi trưa để chợp mắt, thì sức lực đâu chịu nổi nữa…
Thế là cháu trở thành bệnh nhân khoa Nội thần kinh, bỏ hết những buổi học luyện thi tổ chức sau kỳ thi phổ thông. Trong bệnh án có ghi: tránh làm việc căng thẳng đầu óc, nên vợ tôi không cho cháu mang bất kỳ sách vở nào vào bệnh viện cả. Cháu chỉ được phép mang một máy walkman vào để nghe nhạc, và thỉnh thoảng lại có điều kiện trau dồi tiếng Pháp bằng cách nói chuyện với một vài bác sĩ trong Khoa. Cũng là một điều kiện thuận lợi để cháu ôn tập phần nào kiến thức, xem chừng các bác sĩ biết tiếng Pháp cũng thích nói chuyện với cháu khi nhàn rỗi…

2. Tâm sự của cô con gái:
Tôi xuất viện về nhà một tuần trước ngày tập trung thi tuyển sinh. Dù tốt nghiệp phổ thông loại Khá, tôi cũng được Ba tôi xác định trước là tham dự kỳ thi lần này để giải toả tâm lý, chứ mục tiêu kỳ thi chỉ là …cuộc tổng diễn tập chuẩn bị năm sau thi. Thế mà, chuẩn bị bước vào phòng thi, tôi lại thấy tinh thần của mình thư thái hơn hẳn, so với thời điểm thi tốt nghiệp xong. Phải chăng đầu óc tôi đã trở lại minh mẫn sau hơn một tháng thư giãn khi nằm viện, tạm xa rời sách vở để hoà đồng với cuộc sống thông thường?
Dạy Toán, học Văn, ăn Thể dục… Đến lúc này, tôi mới thấy thấy ý nghĩa câu nói này, đặc biệt ở vế giữa. Sau bao nhiêu ngày không cầm đến sách, môn Văn học trở lại trong đầu tôi thật sáng sủa, rõ ràng, tôi không nhớ nhiều những ngôn từ bóng bẩy, nhưng những ý tưởng chủ yếu trong những bài bình văn lại hình thành rất minh bạch. Nói theo ngôn từ của kiếm hiệp, tôi đã nắm được (kiếm) Ý nên không cần thuộc (kiếm) THỨC nữa. Trong sô 3 môn thi, tôi tự tin nhất ở môn Văn, thậm chí còn hơn cả khi chưa nhập viện điều trị. Môn Tiếng Pháp, tôi cũng không lo nhiều vì đa số đối thủ của tôi, các thí sinh thi khối D3 không có điều kiện trau dồi nhiều về tiếng Pháp, trong khi từ nhỏ tôi đã thường xuyên sử dụng để trò chuyện với Ba tôi, một giáo viên tiếng Pháp lâu năm, rồi khi nằm viện vẫn thỉnh thoảng còn ôn luyện. Môn tôi ngại nhất vẫn là môn Toán, đã đành tôi đã học xong phần lý thuyết, có làm những bài tập cơ bản, nhưng còn phần ôn tập nâng cao, chắc chắn tôi thua hẳn các đối thủ đã chăm chỉ tu luyện tại các lò luyện thi sau khi thi tốt nghiệp. Thôi đành mặc kệ, đến đâu hay đó, tôi cũng đã xác định kết quả kỳ thi không quan trọng, nên bước vào phòng thi vô cùng thoải mái, không vướng một gánh nặng tâm lý nào.
Buổi tập trung đầu tiên thật yên bình. Sau khi điểm danh, giám thị 1, một cô giáo đứng tuổi, nói năng hoà nhã và điềm đạm dễ gây ấn tượng, phổ biến cho cả phòng nghe nội quy thi cử và cùng giám thị 2 thu lệ phí dự thi. Các sĩ tử trong phòng thi làm quen với nhau trong một không khí lịch sự giả tạo: chúng tôi đều biết rằng bắt đầu từ ngày mai, tất cả đều trở thành đối thủ của nhau, càng nhường nhịn sẽ càng thêm khả năng bị loại ra khỏi cuộc chiến. Xem lại số báo danh của tôi, được chín nút, 14789, lại là số tới, hên quá! Hy vọng đầu xuôi, đuôi lọt, biết đâu tôi chẳng qua được thuận lợi kỳ thi bước vào đời này.
Buổi sáng đầu tiên thi môn Văn khá trôi chảy. Đọc xong đề thi, sau mười phút soạn dàn bài, ngòi bút của tôi bắt đầu chạy rào rào trên mặt giấy theo dòng suy nghĩ tưởng như vô tận (ngoài dự kiến ban đầu của tôi). Dường như mấy tuần nằm viện đã khơi thông mạch văn của tôi tắc tị bấy lâu nay. Tôi nhìn chung quanh, một số người cũng say sưa viết như tôi, nhưng tôi nghĩ không phải ai cũng nắm vững yêu cầu của đề bài. Lời thầy dạy tập viết hồi cấp một vẫn văng vẳng trong tai: chữ viết trau chuốt, đều đặn sẽ gây ấn tượng tốt cho người đọc, đặc biệt thuận lợi khi người đó chấm bài của mình. Tôi cố gắng viết chữ thật cẩn thận, tránh bôi xoá, giữ bài viết thật sạch sẽ để gây ấn tượng tốt cho người chấm. Hai giám thị ngồi nhàn nhã coi thi đến hết giờ. Một số thí sinh nộp bài về trước, nhưng tôi vẫn ngồi đến phút cuối cùng, dò lại những ý tứ và lỗi chính tả, cố gắng hoàn chỉnh đến mức tối đa bài viết của mình.
Buổi chiều thi Toán là cả một gánh nặng với cả phòng thi. Không ít tiếng thở dài, chắt lưỡi vang lên khi đề thi được phát ra. Đề Toán không quá khó vì những câu hỏi lắt léo chuyên sâu, nhưng đòi hỏi thí sinh phải vận dụng tất cả những kiến thức cơ bản của lớp 12 để giải đến kết quả cuối cùng. Có bệnh thì vái tứ phương: chỉ sau 15-20 phút, đã có một vài trường hợp thí sinh chép bài lẫn nhau phải khiển trách, có người bị cảnh cáo khi phát hiện sử dụng tài liệu mang vào, nhưng tình hình lộn xộn vẫn không dứt. Đến khi hai giám thị lập biên bản đình chỉ thi một trường hợp tái phạm sử dụng tài liệu, an ninh phòng thi mới tạm được vãn hồi. Tôi biết thân phận mình, không dám lao theo những bài tập khó, chỉ biết đánh vật với những câu hỏi cơ bản bằng mớ kiến thức Toán khiêm tốn còn lưu giữ được, với mục tiêu quyết chống điểm liệt, như một thí sinh vui tính đã khôi hài lên tiếng khi đọc đề. Có một bài tập khá quen thuộc nhưng tôi lại quên mất bí quyết giải, chỉ nhớ mơ hồ là phải vẽ thêm một đường gì đó trên hình vẽ. Đến hết giờ, giống như đa số thí sinh còn lại trong phòng, tôi nộp bài với tâm trạng ủ rũ. Ra khỏi phòng thi, cơn giông mùa hạ đang kéo đến, nhưng Ba tôi đã đứng chờ ở công địa điểm thi, mang sẳn áo mưa cho tôi rồi. Trên đường về, đúng lúc tia chớp loé trước mắt, tôi chợt nghĩ ra lời giải bài toán quen thuộc mà tôi đang làm dở dang rồi tắc tị. Trời ơi, có thế mà nghĩ không ra. Đúng là tôi bị tẩu hoả, nhập ma rồi…
Buổi thi thứ ba môn Tiếng Pháp, tôi đã nổ lực vượt mức, cùng với những lời khuyên nhủ của Ba và van nài của Mẹ, để có đủ can đảm đến địa điểm thi, vì tôi đã cầm chắc đậu phải cành mềm đến tám mươi phần trăm rồi. Nghe cu Bi động viên thật buồn cười: chị phải quyết tâm, đây là trận cuối cùng, không còn gì để mất cả. Trên đường đi, tôi lẩn thẩn nghĩ: biết đâu những sĩ tử khác cũng nghĩ như cu Bi, sẽ tìm mọi biện pháp dù tệ hại nhất để đạt đến kết quả: loại đối thủ của mình. Tôi đi thi chẳng cần nhất thiết phải đậu, nếu thiên hạ thấy tôi làm được bài, gây áp lực đòi chép bài của tôi thì sao? Nhưng xe Ba chở đã đến địa điểm thi rồi, chảng lẽ bảo Ba quay trở về nhà lại? Các câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu, đến khi tôi bước chân vào phòng thi… Đập ngay vào mắt tôi là sự vắng lặng đến bất ngờ của phòng thi, sáng nay có hơn nửa số thí sinh trong phòng đã bỏ cuộc, chắc do họ tự đánh giá kết quả bài thi Toán hôm qua quá tệ. Thôi thì may nhờ rủi chịu, tôi tiếp tục môn thi cuối cùng, cũng may Tiếng Pháp là lĩnh vực tương đối quen thuộc của tôi, dù đầu óc có đang bị chi phối nhưng tôi cũng cố làm xong bài kịp giờ.
Thi xong, tôi cùng Ba Mẹ và cu Bi đi Bạch Mã nghỉ mát một ngày. Điều duy nhất tôi yêu cầu mọi người là đừng nói gì với tôi về chuyện thi cử cả, để vết thương tinh thần kịp lên da non…

3. Tâm sự của người mẹ:
Chồng tôi đã xác định cho con thi để giải toả tâm lý, nhưng tôi vẫn tính đến những bức xúc của cháu và những vất vả về vật chất, mặc cảm tinh thần trong năm học lớp 13 sau này. Con tôi xứng đáng để bước vào ngưỡng cửa đại học chứ, tại sao lại phải lùi sau các bạn một năm, vì một lý do khách quan do phải chịu tải quá nặng trong việc học (mà tôi cũng ít nhiều có trách nhiệm)? Tại sao tôi không tìm cách để con tôi được suông sẻ việc học, trong khi chính cháu có khả năng thực sự?
Ngay sau đợt thi, tôi tìm cách tiếp cận những người làm phần hành tuyển sinh xem có chính sách xét tuyển gì có thể châm chước cho con tôi vừa phải điều trị hàng tháng trời ở bệnh viện xong. Một anh bạn học cũ ở Hội đồng Tuyển sinh, trong một vài phút hiếm hoi tôi gặp được giữa hai đợt họp, cũng giải thích cặn kẽ cho tôi rằng yếu tố duy nhất để xét tuyển cháu vào đại học là kết quả 3 môn thi của cháu đạt điểm chuẩn dành cho diện và khu vực của cháu. Tôi thất vọng lấy xe định ra về, nhưng vừa ra đến cổng, một cuộc nói chuyện bất ngờ đã thúc đẩy tôi tiếp tục hướng đi đã dự định…
Một cô gái ăn mặc lịch sự với một nốt ruồi son ở khoé mắt, tôi chỉ nhớ mang máng đã gặp ở đâu đó, chận tôi lại hỏi thăm. Cô ấy hỏi địa chỉ và hẹn tôi tối nay sẽ đến nhà để bàn biện pháp giúp đỡ cho con tôi. Thật bất ngờ! Vì chồng tôi đang đi công tác xa, tôi tỏ ý muốn điện thoại trao đổi qua trước với anh, cô ấy gạt luôn: đừng, chị ạ, đàn ông nguyên tắc lắm, chuyện chị em mình tâm sự với nhau rồi bàn tính giải quyết cho dễ. Tôi đồng ý, vì nghĩ chưa chắc chồng tôi tán thành chuyện này, hẹn cô ấy buổi tối đến nhà. Hai con tôi cùng đi dự sinh nhật của em họ, càng thuận lợi cho chúng tôi tính chuyện…
Cô ấy bảo: thật tiếc là chị không gặp em trước, em có thể lo liệu giúp cho con chị từ khi thi kia. Gởi giám thị sắp xếp cho con chị ngồi cạnh đứa làm được bài, lơ là các trường hợp vi phạm quy chế… đã là một bước thuận lợi rồi. Nhưng thôi, chị gặp được em muộn, đánh phải lo ở khâu chấm thi vậy. Chị cho em số báo danh, nét chữ của cháu, và một số chi tiết về bài làm của cháu. Tôi trả lời: chuyện này tôi không cho cháu biết đâu, nó nhỏ tuổi nhưng tự ái cao lắm. Nội dung bài làm, cháu chỉ nói lại sơ sơ thôi… Câu trả lời đến rất nhanh: thế thì hơi tốn kém đấy!...
Cô ấy xem kỹ nét chữ của con tôi, mượn một cuốn vở ghi chép của cháu hồi lớp 12, và tuyên bố nước đôi: em không dám chắc chắn cháu sẽ đậu, nhưng em sẽ cố tìm cách nâng điểm mỗi môn cho cháu khoảng 1-2 điểm. Trước mắt, chị tạm ứng cho em 5% chi phí làm tiền taxi (tiếng lóng của chi phí giao dịch, không hoàn lại nếu dịch vụ không thành), phần còn lại em sẽ lấy khi cháu có giấy báo chính thức. Chị em ta thống nhất chuyện này chỉ có 2 người biết, có gì chị liên lạc với em theo số điện thoại di động 090… Thôi em chào chị, chúc chị may mắn! Đến khi tôi muốn cô viết mấy chữ làm bằng, cô ấy cười to: Chị ơi, ai dám ghi bút tích chuyện tày trời hả chị? cứ yên tâm, em còn làm ăn nhiều vụ lớn hơn nhiều. Chuyện này em làm giúp chị thôi, ăn thua gì…
Kể từ hôm đó, gần như ngày nào tôi cũng gọi điện thoại cho cô ấy. Tin tức vẫn đều đặn nhận được: … đang liên lạc với cán bộ chấm thi Toán … đã chuyển nét chữ để nhận dạng … đã tìm ra bài, đang hội ý nâng điểm … đã nâng được môn Toán thêm 2 điểm … đang liên lạc với cán bộ chấm thi Văn … đến khi tôi thắc mắc điểm môn Toán ban đầu là bao nhiêu thì câu trả lời có phần lúng túng: … chị không yêu cầu trước, họ đã chấm qua nhiều bài khác nên quên rồi … Thêm một yếu tố nghi ngờ nữa: … Môn Văn đang chấm, nhưng chưa tìm ra bài… trong khi tôi biết, Tổ chấm thi môn Văn đã liên hoan tổng kết đợt chấm thi và giải tán từ hôm qua. Cho nên, tôi dứt khoát từ chối, đòi chờ đến kết quả cuối cùng, khi cô ta gợi ý: em hiện nay phải chạy thêm một số nơi nữa, chị ứng thêm cho em 5% được không? Cũng may, trong nhà chỉ có mỗi mình tôi khổ sở, dằn vặt vì chuyện nhiễu nhương này, trong khi chồng tôi và hai cháu vẫn bình thường, riêng con gái tôi đã đăng ký tham gia lớp học ngoại khoá chuẩn bị năm tới thi lại.
Sự việc kết thúc vào những ngày đầu hạ tuần tháng 8. Anh bạn cũ, đã từng giải thích cho tôi quy chế tuyển sinh, gọi điện về tận nhà báo cho tôi biết, cháu vừa đủ điểm đỗ, từ bây giờ đã nhập số liệu lên Internet và sáng sớm mai sẽ treo bảng chính thức. Môn Toán kém nhất chỉ được 1 điểm, nhưng bù lại hai môn Văn và Tiếng Pháp khá cao và cộng điểm thưởng khi thi tốt nghiệp loại Giỏi nên kéo lại. Anh ta cười: khao đi, chị ơi, thứ nhất là cháu vừa đau dậy mà vẫn thi đỗ, thứ hai là đậu vừa sát nút. Tôi hân hoan: anh cứ chuẩn bị đi, hôm đó anh sẽ là khách quý của gia đình.
Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, tôi nhận điện thoại 090… của cô bạn quý. Giọng khá gấp gáp: Chị ơi, điểm thi của cháu dù có nâng lên rồi vẫn thiếu nửa điểm. Đành phải bổ sung thêm phương án cũ thành phương án mới thôi. Nếu chị đồng ý chi thêm 10%, em sẽ chạy cho cháu đủ điểm đậu, mang giấy báo về tận tay cho chị. Chỉ cần chị hứa đồng ý thôi, khỏi cần tạm ứng gì, chị em với nhau cả mà. Câu trả lời của tôi bây giờ thật lạnh lùng, dứt khoát: Thôi em ạ, chị chấp nhận để cháu hỏng, cứ xem như chị đã thanh toán sòng phẳng tiền taxi cho em rồi. Tôi dứt khoát cắt máy, và liên tiếp cắt khi thấy máy dò điện thoại hiện con số 090… mà tôi không muốn gặp lại nữa.
Thật đáng xấu hổ khi phải thuật lại chuyện này, nhưng tôi muốn kể lại thật đầy đủ để những người trong hoàn cảnh của tôi rút kinh nghiệm, và muốn chính nhân vật chính của sự kiện này cũng phải hiểu rằng tôi biết nhưng bỏ qua, chứ không phải tôi mù tịt chẳng hiểu gì.

4. Tâm sự của cậu em trai:
Buổi liên hoan mừng chị tôi thi đỗ đại học bắt đầu lúc 7 giờ, có đủ mặt mọi người trong gia đình, các bạn học cùng đỗ đại học với chị, một vài người khách của Ba Mẹ. Chị tôi đứng lên, cảm ơn mọi người, nhất là Ba Mẹ, đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để chị có thể vào được đại học. Nhắc đến thời gian nằm viện, chị cho rằng nếu tiếp tục học như trước đó, chưa chắc chị đã có đủ sức đứng vững đến ngày thi, chứ đừng nói thi đỗ. Phải nghỉ học để nhập viện điều trị bệnh là một cái rủi, nhưng trong cái rủi đó lại có cái may là đầu óc được nghỉ ngơi sau một thời gian đã bị bão hoà.
Ba tôi tiếp lời: giống như chuyện Tái ông mất ngựa ngày xưa. Tái ông có con ngựa hay đi lạc mất, mọi người cho rằng rủi, Tái ông bảo không lo, biết đâu trong cái rủi có cái may. Mấy hôm sau ngựa quay về dắt theo một con ngựa đẹp khác, Tái ông bảo biết đâu trong cái may lại có cái rủi. Cứ như thế, cậu con trai cưỡi con ngựa mới bị ngã gãy chân, thì được miễn đăng quân dịch, thời đó đi lính chết trận rất nhiều. Nói tóm lại, trong cái rủi lại có cái may, trong cái may lại có cái rủi, ta phải biết phát huy hết khả năng của mình trong mọi hoàn cảnh…
Truyền hình đang phát phần thời sự, đến phần nói về một tổ chức lừa đảo lớn về kinh tế - văn hoá – xã hội đang bị ngành Công an phanh phui và truy tố. Đến khi trên màn hình xuất hiện ảnh của người phụ nữ đứng đầu tổ chức lừa đảo, ăn mặc lịch sự, với một nốt ruồi son ở khoé mắt, tôi thấy tự nhiên mẹ tôi sững người hẳn ra. Tôi hỏi: Mẹ ơi, Mẹ quen người này à? Mẹ tôi lắp bắp: Không … Không, Mẹ không quen, nhưng cùng lúc nhìn thấy giọt nước mắt xúc động trên mi mắt, tôi nghe dường như có tiếng thở phào nhẹ nhõm thoát ra khỏi lồng ngực của Mẹ.
(viết nhân Ngày khai giảng năm học 2003-2004 của Đại học Huế)
09/2003

Truyện ngắn 03

MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ...
Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Nhâm nhi xong chén chè móc câu đặc sánh – thói quen cố hữu từ ngày còn tại ngũ, chồng tôi dắt chiếc Cub 90 ra khỏi nhà. Lão dặn với lại: Trưa nay tôi bận việc ở cơ quan, có thể về muộn. Cả nhà đừng chờ cơm! Tôi lặng lặng dọn dẹp bàn ăn, không nói gì. Ghê nhỉ! Lão nói có vẻ chu đáo lắm, chỉ lo vợ sốt ruột chờ ở nhà. Có ai đoán ra trong bụng của lão đang suy tính điều gì? Tôi nhớ lại lời của Quỳnh, cô bạn thân thiết của tôi. Quỳnh nhắc đến một câu đố vui bên châu Âu, hàm chứa một triết lý sâu sắc: Nếu chọn giữa một quả táo và hai nửa quả táo, bạn chọn bên nào? Trả lời: nên chọn hai nửa quả táo, như thế mới biết được trong đó có sâu hay không! Ngạn ngữ Việt nam cũng đã ví von: làm sao biết được có gì trong trái ổi?
Tôi lẳng lặng chở con đến nhà mẫu giáo, thằng bé vẫn vô tư không biết những cơn sóng ngầm đang cuồn cuộn trong lòng tôi. Cu cậu chỉ hỏi: Mẹ oi, sao hôm nay mẹ lại mang nồi cơm điện? (ở nhà, tôi vẫn thường gọi mũ bảo hiểm như thế). Tôi trầm ngâm: Mẹ có chuyện phải đi ra ngoài thành phố, đến chiều mẹ về sẽ đón con...
Gởi con cho cô bảo mẫu xong, tôi vẫn chần chừ chưa đi ngay được. Tôi kiếm một quán café – thói quen đã bỏ từ khi lấy chồng, gọi một ly ca cao, đọc lại một lần nữa lá thư mà tôi đã gần như thuộc lòng (thư gởi cho chồng tôi, đến nhà cách đây 2 hôm, chồng tôi đi công tác chưa về, nên tôi bóc ra xem có gì gấp không). Những dòng chữ có nét cứng quèo - nhưng được viết một cách nắn nót, chứng tỏ người viết đã rất chú trọng đến ý tứ trong thư - nhảy múa trước mắt tôi: ... Gia đình không bao giờ quên tình cảm của cháu đã dành cho em Hà... Hiện nay trong người em Hà đang mang dòng máu của cháu..., tôi bàng hoàng gấp thư lại, không thể tỉnh táo để đọc thêm được nữa. Ngoài phong bì còn ghi rõ: gởi anh Kỷ (tên chồng tôi), bộ đội chuyển ngành, và địa chỉ mà gia đình chúng tôi hiện đang ở, còn sai chạy đi đâu được nữa? Tôi xem lại phần địa chỉ người gởi: bà Mai thị Hậu, ở một địa danh cách Huế không đến 10 km, nằm gần đường quốc lộ, với đầy đủ tên xóm, thôn, xã, huyện... Về địa phương, một địa chỉ như thế là đầy đủ lắm rồi, nhiều khi với lá thư chỉ có tên họ người nhận, tên xã là nhân viên bưu điện có thể đưa đến tận tay rồi.
Tôi nhìn lại đồng hồ, mới gần 8 giờ thôi. Tôi nhẩm tính: đi từ đây về đó mất tối đa 30 phút, để tìm ra nhà cho thêm 30 phút nữa, nói chuyện mất khoảng 1 giờ đồng hồ (mà biết nói chuyện gì nhỉ?), toàn bộ cho hết 2 tiếng đồng hồ, còn khoảng 30 phút để về. Tôi chua chát tự nhủ: liệu có thể ra về bình thường được không, hay là khi biết được sự thật, tôi không thể cùng sống chung với chồng tới dưới một mái nhà nữa?
Tôi tự dặn mình phải luôn luôn bình tỉnh. Cái lý thuộc về tôi, tại sao không cố tìm hiểu sự việc đến đầu, đến đũa? Tôi tự tin mình không dễ bị đàn áp đâu, hơn 40 tuổi đầu, bao nhiêu năm lăn lộn với đời, tôi có sợ gì ai nữa. Trông bề ngoài tôi chỉ như những phụ nữ bình thường khác, nhưng có ai biết tôi đã có bằng lý luận chính trị trung cấp, đã gần 4 năm theo đuổi môn Judo, mang thắt lưng đen nhị đẳng, có phải thằng đàn ông nào cũng đàn áp tôi dễ dàng đâu?
Rồi tôi chạnh nghĩ lại, thằng đàn ông đang làm tôi khổ sở như hiện nay, chính là lão - chồng của tôi (bực mình thì tôi gọi bằng lão, chứ chồng tôi chỉ hơn tôi vài tuổi, năm nay mới gần 50 thôi!). Lão sinh trưởng ở miền Nam Trung bộ, mang cái tính ào ào của dân miền Nam. Được cái, lão khá xông xáo, công việc nào cũng hăng hái đi đầu, cách đây 20 năm là bí thư chi đoàn của tôi, một ủy viên ban chấp hành đoàn trường năng nổ. Lão cũng có lắm tài lẻ, trong thời buổi hiện nay - ngoại ngữ, tin học là mode thời thượng, lão lập trình cho máy tính mà cứ như múa hai tay trên bàn phím, trả lời điện thoại bằng tiếng nước ngoài cứ nói ro ro như tiếng mẹ đẻ...
Trước đây, tôi chỉ không bằng lòng cái tính ba hoa của lão thôi. Mới cách đây mấy tuần, thằng con lớn đang học lớp 9, hỏi tôi: Mẹ ơi, “mèo mù vớ cá rán” là gì hở Mẹ? Tôi đã liếc nhìn lão, trả lời, giọng hơi khiêu khích: Con hỏi Ba con thì rõ... Lão cười khà khà, nói ngay: Thì như Mẹ với Ba đây, (ngừng vài giây), Mẹ vớ được Ba đó! Về sau, có lần lão huênh hoang phịa thêm khi nhậu với bạn bè, ngay cả khi tôi có mặt ở đó: Hồi tao sắp cưới, có nghe bà gia của tao trách ông gia “Nó hỏi cưới con mình là được rồi, việc gì ông bắt tay cám ơn nó nữa?”. Tôi không thèm chấp lời nói của rượu, nhưng có lần tôi phản công, hỏi: liệu ngoài tôi ra, có ai thèm rước ông không? lão lại cười khà khà, trông thật dễ ghét: cần gì rước, vật tư tôi thừa, ai xin thì tôi cho, đổ xuống sông, xuống bể làm gì cho uổng...
Tôi cũng mong sao lão thuộc loại thùng rỗng, kêu to, chứ loại người thô lỗ như lão, có cô nào dám dây vào? Ăn to, nói lớn, ruột để ngoài da, loại nông dân chính hiệu cả ba đời. Lão chỉ được ưu điểm nổi bật là rất có tinh thần trách nhiệm: tôi nhớ ngày trước, có lần chấm thi tuyển sinh môn Toán, lão nhớ đã chấm sót một ý không biết ở bài thi nào, cứ nằng nặc đòi tôi (làm thư ký chấm môn Toán) tìm ra cho được bài đó để chấm lại. Hồi đó, tôi như bị mê hoặc trước tính cách của lão và bị chinh phục vì những yếu tố có vẻ viễn vông, trừu tượng như thế. Khi lập gia đình với tôi – nói theo ngôn ngữ của lão là tra chân vào cùm, lão chỉ yêu cầu tôi đừng bao giờ xen vào những mảnh trời riêng của lão, chẳng hạn mối quan hệ của lão với bạn đồng đội ngày trước… Quả thật, tôi khó tưởng tượng một giảng viên đại học như lão, trình độ, bằng cấp chẳng phải kém cỏi gì, lại có thể ngồi bá vai, bá cổ, mày tao chi tớ với những cậu đạp xích lô, xe thồ, nốc rượu cuốc lủi nhắm với lạc rang và kể chuyện ngày xửa, ngày xưa… Lão giải thích với tôi: đó là những lúc tôi sống thật với mình nhất, với những kỷ niệm xương máu…
Lần này, quả thật tôi không ngờ, bên cạnh những biểu hiện sôi nổi, nhiệt thành như thế, lão lại bí mật thiết lập một mối quan hệ với một hậu quả quá nặng nề: …Hiện nay trong người em Hà đang mang dòng máu của cháu..., chi tiết đắt giá này và những câu phát biểu tưởng chừng bâng quơ trước đây của lão bây giờ kết hợp lại thành một mắt xích hoàn chỉnh trong đầu óc tôi: lão đang tách dần ra khỏi cuộc sống gia đình, bằng một mối quan hệ mật thiết khác.
Tự nhiên tôi thấy mệt mỏi, cảm thấy riêng mình khó hoàn thành công việc tìm hiểu khó lường được kết quả - thậm chí sẽ là hậu quả - này. Tôi đến trạm điện thoại công cộng, gọi cho Quỳnh, cô bạn thân thiết, luôn ở bên cạnh tôi, mỗi khi vui sướng cũng như lúc buồn bã. Quỳnh vẫn sống độc thân, nhưng đã khá trưởng thành, lại là người ngoài cuộc nên chắc đủ sáng suốt để góp ý cho tôi. Tôi tin Quỳnh quan tâm đến hạnh phúc của tôi, dù ngày xưa Quỳnh đã có ý kiến phản đối khi tôi lập gia đình với lão, nhưng bây giờ chắc chắn Quỳnh không nhân dịp này để quậy, nó sẽ lo cho tôi như một cố vấn tình cảm thực sự… Tôi hỏi ngắn gọn: Hôm nay em rảnh không, đi với chị một chuyến về quê, gần thành phố thôi. Câu trả lời cũng ngắn gọn: OK, chị cứ ở quán café chờ, 15 phút nữa em đến.
Chúng tôi đi cùng một xe, Quỳnh ngồi trước đèo tôi, phóng thẳng về địa chỉ ghi trên bì thư. Tôi ngồi sau, kể lại mọi chuyện một cách lộn xộn, chẳng có thứ tự gì, thỉnh thoảng lại xen lẫn những suy nghĩ của mình vào từng chi tiết của câu chuyện. Dọc đường đi, thỉnh thoảng Quỳnh ngắt lời tôi để hỏi lại chi tiết, con bé có vẻ quan tâm đến những nhân vật nêu trong thư, đặt ra những câu hỏi (rồi lại cùng tôi tìm câu trả lời). Tại sao cô Hà đó không viết cho chồng chị, lại để cho mẹ mình viết? (có lẽ để người lớn nói thì thuyết phục hơn chăng, kể như được gia đình thông qua). Có thời điểm nào chồng chị về vùng đó không, để gặp cô Hà đó? (lão đi công tác khỏi thành phố thường xuyên, mỗi lần vài ba ngày, có khi cả tuần, với lý do đi dạy tại chức, làm sao quản được). Chồng chị có đưa hết tiền lương cho chị không, hay đòi giữ quỹ riêng? (lão không bao giờ giữ quá trăm ngàn trong túi, có lần hư xe, sửa có 60 ngàn mà phải mắc nợ, hôm sau chị mang tiền đến trả thay). Cuối cùng,Quỳnh kết luận: Theo em nghĩ, mối quan hệ này chẳng phải vì tiền, mà cũng không phải vì tình đâu, có lẽ vì cô Hà đó hoặc tính cách lẳng lơ, hoặc ế chồng, cần một đứa con chẳng hạn, gặp ông chồng chị năng nổ, tốt bụng nên cô ta bám vào thôi. Phải kiểm tra lại xem, nếu đúng như thế, chuyện cũng không quá phức tạp, chị có thể tìm cách giải quyết êm thắm…
Quỳnh phóng xe như bay, chẳng mấy chốc đã đến ngã ba rẽ vào làng. Địa chỉ tôi tìm chỉ còn cách vài trăm mét nữa thôi. Tự nhiên, tôi thấy ngần ngại, nửa muốn đi tiếp, nửa muốn quay về. Tôi nói nhỏ: Em chú ý nói năng cho khéo nhé, đùng làm ầm ỉ, xấu chàng, hỗ ai mà. Quỳnh cười nhẹ: Chị cứ yên tâm, mình là dân từ thành phố về, hành động phải như dân có học, em biết đường cư xử mà…
Quỳnh chận một cậu bé đang dắt trâu đi ngang, hỏi thăm đường về nhà bà Hậu. Cậu ta chỉ một ngôi nhà ở cuối xóm, có trồng mấy cây cau cao vút: nhà mệ Hậu đó chị ơi, nhưng chẳng có ai ở nhà đâu, đi vắng cả rồi! Tôi ngớ cả người: sao nhà họ lại đi vắng vào lúc này? cô Hà đang bụng mang dạ chửa, không ở nhà nghỉ ngơi, còn đi đâu nữa?
Quỳnh đảo xe một vòng trước sân, chúng tôi cùng bước lên thềm, xem xét. Nhà ba gian, hai chái khang trang, có sân gạch, vườn rộng đầy cây ăn quả, có chuồng heo, ao cá khá rộng, chắc kinh tế cũng khá. Cửa chính khoá trái, nhưng nhìn vào vẫn thấy một chiếc xe máy, loại Dream Thái hẳn hòi chứ không phải của Tàu, vật dụng trong nhà tương đối đầy đủ, từ chiếc TV Samsung 20 inches màn hình phẳng đến bộ giàn karaoké Toshiba khá hiện đại. Tôi bần thần tự nghĩ: không biết kinh tế gia đình này so với gia đình tôi, bên nào hơn?
Có lẽ Quỳnh không suy nghĩ lẩn thẩn như tôi, nó đang nóng lòng biết sự thật nên đề nghị tôi cùng sang nhà hàng xóm tìm hiểu thêm. Sang ngôi nhà đối diện, chúng tôi gặp một bà cụ già đang trông cháu trong bếp, lân la tìm hiểu thêm chi tiết về gia đình này. Hiểu phong tục ở nông thôn, chúng tôi không dám đề cập ngay đến mục tiêu chủ yếu, chỉ bảo là từ Huế về thăm gia đình bà Hậu có câu chuyện cần bàn… Gặp bà hàng xóm hay chuyện, chúng tôi khai thác được khá nhiều điều (quả thật, ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ): chồng bà Hậu là bộ đội phục viên, hiện đang là Phó chủ tịch Chi hội Cựu chiến binh của xã, vừa là Tổ trường Tổ Mây tre, một ngành tiểu thủ công nghiệp của địa phương; bà Hậu trước đây là Thanh niên xung phong, bây giờ là Hội trưởng Hội Phụ nữ xã (càng tốt, chúng tôi càng dễ đề cập đến việc giải quyết mối quan hệ giữa chồng tôi và cô Hà); cậu con trai cả là đại đội trưởng trinh sát ở Lạng sơn, đã lấy vợ là giáo viên cấp I ở đó, có 2 cháu còn nhỏ; cậu con trai thứ hai vừa mới nhập ngũ tuần trước, đang được huấn luyện tân binh ở Nghệ an…
Quỳnh nóng ruột chen vào: Thế ông bà Hậu có con gái không hả bà? Bà cụ chép miệng: Có, tội nghiệp…, đúng lúc đó thì cháu bà đang ngủ lại giật mình khóc váng lên, bà quay lại dỗ cháu, không biết hai chúng tôi đang nóng ruột chờ bà tiếp tục câu chuyện dang dở. Mười phút sau, cháu mới nằm yên, bà kéo chúng tôi lên nhà trên, dặn nhỏ giọng để cháu khỏi giật mình, rồi tiếp tục: Con bé mất rồi, tội nghiệp… (tôi giật mình, thư mới gởi đó mà, sao nhanh thế? và cố nén một tiếng thở phào ích kỷ). Mọi người đều thương tiêc nó, hy sinh đúng vào năm 1975, lúc giải phóng Huế, thật thương tâm, nó là chị cả trong nhà, làm gương sáng cho các em noi theo (không, thế thì còn người con gái khác nữa mà). Tôi nghẹn giọng, may có Quỳnh hỏi thay: Bà ơi, thế nhà ấy không còn cô con gái nào nữa à? Bà cụ chậm rãi: Không, ông bà chỉ có tất cả ba đứa, tôi kể hết rồi. Tôi dồn hết can đảm để hỏi: Thế cô Hà là cô nào hả bà?
Bà cụ tròn mắt nhìn tôi, không biết bà nghĩ gì mà ngớ người ra một hồi lâu, rồi bà lắc đầu: Làm gì có cô Hà nào, nhà ấy chỉ có cô Minh đã mất, cậu Anh ở Lạng sơn, và cậu Hà mới nhập ngũ! Lời bà nói thật từ tốn, chậm rãi, mà chúng tôi nghe như sét nổ ngang tai. Hoá ra, ”em Hà” được kể trong thư là ... đàn ông, cùng giới với chồng tôi, vừa mới nhập ngũ mấy hôm…
Chúng tôi tẽn tò đứng lên, định chào bà cụ để cáo lui, vì thấy mục tiêu chuyến đi đã lệch hướng rõ ràng, dù trong bụng vẫn băn khoăn, không hiểu dòng máu của chồng tôi ghi trong thư nhận được thực chất là gì? Đúng lúc đó, bà cụ chỉ sang nhà bên cạnh,giọng linh hoạt hẳn lên: Kìa, bà Hậu đã đi chợ về rồi! Hai cô sang hỏi thăm đi. Rồi bà cao giọng: Ớ bác Hậu ơi, có hai cô trên Huế về thăm em Hà này.
Bà Hậu tất tả chạy sang ngay. Biết chúng tôi từ Huế về, sau một hai phút ngờ ngợ, bà hỏi chúng tôi có phải người nhà của anh Kỷ không? Gia đình chúng tôi có quen ai ở Huế đâu, chỉ có mỗi một lần vừa rồi phải đưa em lên Huế để mổ, mới gặp anh Kỷ thôi. Mời hai cô uống nước đi, hôm nay đã về được đây thì xin dùng với chúng tôi bữa cơm rau, chúng tôi vẫn mong có được dịp may như thế này. Quý hoá quá!
Mặc dù chúng tôi đã cố khước từ, bà vẫn vồn vã mời chúng tôi về nhà, tất tả thổi cơm, bắt gà làm thịt, sau khi đã điện về cơ quan chồng tôi (bây giờ tôi hết muốn gọi bằng lão rôi) báo tôi bận việc, đến chiều mới về đến nhà, đón thằng em luôn (thằng anh trưa nay đi dự sinh nhật của bạn). Suốt bữa cơm, tôi lẳng lặng ngồi nghe bà kể chuyện, uống từng lời của bà cụ chất phác, mẹ của em Hà, và ngấm ngầm tự hào lắng nghe lời bàn luận của ông cụ, ba của em Hà, vừa mới từ Tổ Mây tre về nhà dùng bữa trưa:
“... Hôm đó trời mưa to, em Hà mang dây nài trèo lên cây cau trước nhà để hái buồng cau chuẩn bị cho ngày giỗ sắp đến. Không ngờ dây nài cũ quá nên đứt, em rơi từ cây cau xuống, không bám víu vào đâu được nên bị gãy xương chân... Đến khi nhập viện, phải chuyển về Bệnh viện Trung ương Huế, em Anh ở Lạng sơn mới gọi điện về, bảo đã liên lạc nhờ anh Kỷ là đồng đội cũ ở Lạng sơn giúp đỡ, hiện nay anh ấy đang công tác ở Trường Y, rất quen biết, gần gũi với các thầy thuốc ở bệnh viện... Khi sắp phẫu thuật, bác sĩ điều trị bảo cần chuẩn bị máu để chuyền cho em, chúng tôi chẳng biết chạy tìm ở đâu ra, mà gia đình chúng tôi (bà cười chữa thẹn) sợ bị lấy máu lắm, cô thông cảm, ở nông thôn mà!... Đến khi anh Kỷ biết em Hà cùng nhóm máu B, anh xắn tay áo lên cho máu ngay, tôi đâu có ngờ người ta lấy của anh gần nửa lít máu (tôi biết chồng tôi đã cho đúng 2 đơn vị), cho xong rôi anh ấy đi ngay, bảo đã đến giờ dạy học, tôi chỉ kịp ghi địa chỉ của anh ấy... Mãi đến khi em Hà bình phục hẳn, đúng đợt tuyển quân, chúng tôi chuẩn bị cho em nhập ngũ, chỉ kịp viết mấy dòng cho anh Kỷ (suýt nữa tôi phì cười, nhớ lại những hiểu nhầm của mình qua những dòng thư chân thật - nhưng nghe thật văn vẻ, nên gây hiểu nhầm - của bà cụ)... Các cô ơi, đúng là ông Trời có mắt, gia đình tôi có 3 cháu nhập ngũ, không những được cấp bảng vàng danh dự mà còn có được anh em bộ đội quan tâm giúp đỡ...” (ông cụ nhường cho bà nói hết, chỉ chen vào: “Bộ đội cụ Hồ là thế đó bà ạ, không bao giờ quản ngại khi giúp được ai đâu, tôi đã là bộ đội, tôi biết mà...”)
.....
Buổi chiều hôm nay, gia đình chúng tôi tổ chức bữa cơm khá thịnh soạn, có cả Quỳnh tham dự. Tôi đã dặn Quỳnh tuyệt đối không được kể lại chuyện sáng hôm nay (ngượng chết!), mà con bé ngồi ăn cứ tủm tỉm cười suốt bữa cơm, làm tôi chột dạ chẳng dám nói gì nhiều. Đến khi con tôi vô tình kể: Mẹ ơi, lớp con có một bạn mới, tên Thanh Hà, ban đầu cả lớp thấy bạn để tóc dài, tưởng là con gái, sau thấy bạn đi tiểu mới biết, hoá ra bạn là con trai, Mẹ ạ, thì Quỳnh phá lên cười sặc sụa, tôi ngượng chín cả người, chỉ riêng ông chồng tôi vẫn ngơ ngác nhìn mọi người, chẳng hiểu tí gì…
(viết nhân ngày Hiến máu Nhân đạo 7/4)
04/2003

Truyện ngắn 02

TRĂM NĂM BIA ÐÁ THÌ MÒN…
Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Ðến ngã ba Ngoẹo Dàng Xay, chiếc taxi chở chúng tôi rời đường quốc lộ, rẽ vào tỉnh lộ 49. Chạy được một quãng, xe tạm dừng tại chắn An Cựu để tránh tàu hỏa. Tôi vào một quán hàng xén bên đường, mua mấy nén hương và diêm. Tôi phải tìm chọn cho được loại hương thơm làm ở đất Bắc, không có bao bì sặc sỡ nhưng mùi trầm rất đượm. Ðặc tính này, theo tôi, rất hợp với Thầy, con người sống với nhiều nội tâm. Tôi bần thần nhớ lại…
Sau bao nhiêu năm thụ giáo với Thầy, từ những ngày chập chững bước vào bậc trung học đệ nhị cấp ở Trường Ðồng Khánh cổ kính, đến những năm học Văn khoa trên dãy lầu Morin mượn của Ðại học Khoa học, và năm học cuối cùng sau 1975 khi chuyển sang ngành Sư Phạm, tôi đã không chỉ học được kiến thức ngoại ngữ của một người thầy nói tiếng Pháp thông thạo như tiếng mẹ đẻ, mà còn đã biết ngưỡng mộ ở Thầy một tính cách khiêm tốn đầy tự trọng, một tài năng uyên bác trong một bề ngoài vô cùng giản dị.
Ít ai biết được con người từng giảng Văn học sử nước Pháp trôi chảy như một giáo sư chính gốc, từng hướng dẫn cho nhiều giáo sinh Ðại học Sư phạm làm khoá luận tốt nghiệp về Giáo học pháp, lại là kẻ đã cầm tầm vông vạt nhọn trong hàng ngũ Thanh Niên Tiền Phong, chống lại súng đạn của Pháp hồi Nam bộ Kháng chiến, để được hưởng mùi vị mấy tháng cơm tù Catinat và một án lưu đày biệt xứ. Tôi tình cờ biết được bí mật này hồi 1973, sau khi cảm khái lời bình luận của Thầy qua bài Plainte de l’Exilé (Lời than thở của kẻ bị đày) trong khi giảng về nhà thơ Baudelaire, tôi tìm cách dò hỏi người cậu làm An ninh ở Ty Công an Tỉnh Thừa thiên, và đã ít nhiều biết rõ thêm về một quá khứ đầy sôi động của người thầy có bề ngoài điềm đạm, mực thước này, tuy đang dạy học nhưng vẫn đang bị Ban Nội chính Thị xã Huế theo dõi từng đường đi, nước bước sau mấy năm bị Pháp lưu đày, an trí ở Đồng hới…
Tàu đã chạy qua, đường thông rồi. Tôi trở ra xe, giục lái xe chạy tiếp, rồi lặng im ngắm cảnh vật hai bên đường Ngự Bình thi nhau chạy ngược lại, miên man hồi tưởng về quá khứ đang quay chậm trong ký ức. Qua bao nhiêu năm, nhiều sự kiện trôi qua đã giúp cho tôi cảm nhận được cách sống của Thầy tôi...
Những biến động năm 1975 đã ào đến như một cơn lốc, làm thay đổi bao nhiêu sinh hoạt bình thường. Việc học tập của sinh viên chúng tôi cũng bị gián đoạn mất hàng tháng liền. Đến khi các trường học tiếp tục hoạt động lại, ngành giáo dục bắt đầu rà soát rất chặt chẽ hàng ngũ giáo viên ở các trường trung - đại học, và căn cứ theo bằng cấp, Thầy được phân về một Trường cấp 2 trong Thành phố! Thầy vẫn bình thản nhận và hoàn thành nhiệm vụ này như chấp thuận một sự an bày của Số phận, và sau đó một tháng cũng bình thản nhận tiếp quyết định điều chuyển từ Trường cấp 2 đó về Ðại học Sư phạm để giảng dạy tiếng Pháp. Vào tuổi 60, trong đợt nghỉ dưỡng bệnh sau khi được mổ thủy tinh thể cả hai mắt, vẫn với thái độ điềm đạm như thế, Thầy lại đến trường, tiếp tục giảng bài với đôi mắt còn băng kín, chỉ nhờ lớp trưởng đọc từng đoạn giáo trình in sẵn...
Thật xót xa thay cho Thầy khi, về nguyên tắc, Thầy vẫn chỉ được xếp là một cán bộ lưu dung, thâm niên công tác của Thầy chỉ được tính từ năm 1975. Thầy nhận quyết định nghỉ chế độ với vỏn vẹn 7 năm công tác - thật oái oăm, nhưng những nguyên tắc về chế độ, chính sách là không thay đổi được. Nhiều đồng nghiệp, học trò của Thầy đã cố tìm những người hoạt động kháng chiến với Thầy ngày trước, để xin xác nhận thành tích kháng chiến của Thầy, hầu tăng thêm thời gian công tác, nhưng những người này, hoặc đã chuyển công tác đi xa, hoặc lại quan tâm đến nhiều công việc khác, nên chẳng có kết quả gì… Thầy lại có vẻ không thiết tha với chuyện này. Thầy bảo khi cầm cây tầm vông vạt nhọn lao lên đương đầu với súng đạn, có mấy ai nghĩ đến chuyện sau này cần phải chứng nhận thành tích đâu?
Sự chấp nhận thua thiệt này của Thầy đã giúp tôi liên tưởng đến nhận định của Marxim Gorki để ví von với cách sống của Thầy: “Giá trị con người là một phân số, trong đó tử số là mức mình có, mẫu số là mức mình tưởng mình có”. Thầy vẫn tâm sự với học trò: “Tôi chỉ là một con đom đóm nhỏ, muốn góp phần thắp sáng cho cuộc đời”. Điều đó khiến chúng tôi thấy mình vô cùng bé nhỏ trước Thầy. Quả thật, đến cuối đời, dù Thầy chưa hề được công nhận danh hiệu cao quý Nhà giáo ưu tú, học trò khắp mọi nơi trên thế giới, từ châu Âu sang châu Mỹ, vẫn quý trọng Thầy như một người thầy chân chính…
Leo lên hết dốc Ngũ Tây, chiếc taxi dừng lại dưới gốc đa bên vệ đường. Bạn tôi bảo, từ đây đến chỗ Thầy còn gần một cây số nữa, đường hẹp lắm nên taxi không vào được, phải chịu khó đi bộ thôi, dù đường có hơi lầy lội sau cơn mưa. Thì đi! Tôi đã bay hàng ngàn cây số về đến đây, có nề hà gì một khoảng cách đi bộ nữa để đến với Thầy...
Tôi cũng chẳng xa lạ gì đối với gia đình của Thầy, hồi còn đi học tôi vẫn thường tự xưng là con gái đỡ đầu của Thầy, thường đến nhà Thầy thăm Cô và các con của Thầy, ngay cả khi tôi đã tốt nghiệp ra đi dạy. Giống như những gia đình khác ở miền Nam, cuộc sống vật chất của gia đình Thầy đã thay đổi khá nhiều từ sau năm 1975. Chiếc xe Vauxhall bốn chỗ ngồi trước đây Thầy vẫn lái đi làm, đưa các con đi học đã mất ở Ðà nẵng vào những ngày loạn lạc tháng Ba năm 1975, thay vào đó là chiếc xe đạp Saigon; chiếc áo veste chững chạc mặc hàng ngày lên lớp đã được thay bằng áo chemise ngắn tay và quần kaki đơn giản, và bao nhiêu thay đổi khác nữa cho thấy rõ sự xuống dốc về kinh tế của gia đình Thầy.
Ðiểm đáng trân trọng là Thầy vẫn cố lo cho các con học đến nơi đến chốn, dù kinh tế gia đình đã sa sút nhiều. Thầy đã dạy cho chúng tôi biết giá trị của việc học, học để có nội dung - có kiến thức thực sự, chứ không phải chỉ để có hình thức - giành được một mảnh bằng. Bản thân Thầy, dù không có được bằng đại học, nhưng với những kiến thức, kinh nghiệm tích lũy sau hơn 40 năm giảng dạy và phong cách sống, Thầy đã truyền đạt cho lũ hậu sinh chúng tôi (sau khi nghỉ chế độ, Thầy vẫn được tiếp tục mời giảng ở Trường) những điều không thể đánh giá bằng những chứng chỉ theo quy định của ngành giáo dục. Chỉ sau này, khi đã ra vật lộn với xã hội, phải lựa chọn giữa bản ngã và những ràng buộc khác, chúng tôi mới thấy được công sức của những người đi trước như Thầy - đã dạy chúng tôi chữ Tâm trước khi dạy chữ Trí
Sau khi cùng gia đình xuất cảnh sang nước ngoài, tôi đã phải bỏ nghề godautre (gõ đầu trẻ) để chuyển sang kinh doanh, mở cửa hàng may mặc. Công việc tôi thành đạt một phần cũng từ chữ Tâm học được của Thầy. Tôi không chạy theo số lượng để mưu cầu lợi nhuận, mà tự đặt mình vào cương vị khách hàng để nâng cao chất lượng của sản phẩm làm ra. Ðối với tôi, lợi nhuận của cửa hàng chỉ là kết quả tất yếu của việc nâng cao uy tín với khách hàng, chứ không bao giờ là mục tiêu cao nhất của công việc...
Bạn bè chúng tôi ở nước ngoài có liên lạc với nhau và quyên góp tiền về biếu Thầy khi nghe Thầy lâm bệnh. Lần đầu tiên, Thầy nhận nhưng viết thư dặn chúng tôi dừng có lo lắng nhiều cho Thầy, căn dặn kỹ lần sau đừng gởi nữa, vì Thầy không muốn làm mọi người bận tâm, ở trong nước Thầy cũng tự lo liệu được như mọi người…
Thầy ra đi năm 1994, do căn bệnh cố hữu của những người làm việc quá sức trong một môi trường đầy bụi phấn khá ô nhiễm. Những con vi trùng Kock đã huỷ hoại đến mức xơ hoá gần hết hai lá phổi của Thầy, cùng với những triệu chứng loạn nhịp tim thường thấy ở người cao tuổi đã làm sức khoẻ của Thầy kiệt quệ. Thật tiếc là trong những ngày tang tóc ấy, tôi không có điều kiện quay trở về nước, ra Huế để thắp một nén hương trước linh cửu của Thầy, người mà tôi quý trọng như cha của mình.
Giày của tôi đã dính bê bết đất đỏ bazan, tôi bước hơi vất vả. Nhưng gần đến nơi rồi, bạn tôi bảo mộ của Thầy nằm khuất sau đám tùng xa xa. Thầy ơi! Con muốn thưa với Thầy, lý do vì sao con không tham gia vào việc đóng góp xây lăng mộ cho Thầy, dù con đã được tiếng là con gái đỡ đầu của Thầy. Bao nhiêu người đã chê trách con vì chuyện đó…
Sau khi Thầy mất, tôi đã đọc lời nhắn tin gởi chung trên nhiều tạp chí hải ngoại, đã nhận những thư điện tử gởi đến địa chỉ của tôi, nói lên ý định đóng góp tiền của để xây lăng mộ cho Thầy, nhưng tôi vẫn lặng im không trả lời. Tôi vẫn yêu kính Thầy như xưa, mỗi lần nghĩ về quê hương là tôi nhớ đến Thầy, nhưng tôi tin chắc hương hồn Thầy sẽ không vừa lòng khi biết mọi người kêu gọi đóng góp để xây lăng mộ cho Thầy. Thầy đã tuyên bố: modeste je vis, modeste je mourrai! (Tôi sống khiêm tốn và sẽ chết đơn giản!) và tôi biết, Thầy là người luôn giữ lời của mình. Tôi không muốn phê phán gì chuyện học trò đóng góp để xây dựng cho Thầy, nhưng trong thâm tâm, tôi biết chắc Thầy sẽ không bằng lòng. Khi còn sống, Thầy đã không muốn làm người khác bận tâm, có lý đâu lại đồng ý việc góp tiền xây lăng mộ cho mình?
Các bạn của tôi đã trách móc thái độ bất hợp tác này của tôi, thậm chí có người đã dè bỉu tôi chỉ biết tự nhận là con đỡ đầu của Thầy khi còn ở trong nước, còn nhờ đến Thầy, đến bây giờ ở nước ngoài, Thầy ra đi thì tôi lại quên luôn vai trò của mình. Tôi không muốn giải thích lý do, vì tôi biết nói ra cũng chẳng mấy ai hiểu. Tôi chỉ tiếc là mình ở quá xa Thầy, không biết được ý nguyện cuối cùng của Thầy để tìm cách thực hiện, nhưng tôi biết Thầy không bao giờ nghĩ đến mình trước người khác, việc đưa ra chuyện xây lăng mộ chắc chắn không hợp với ý của Thầy.
…Tết năm nay, tôi quyết định trở về quê sau bao lần đón Xuân đất khách, vì công việc làm ăn đã tạm ổn định, và Ba Mẹ tôi ở quê cũng đã già yếu nhiều. Những người sống xa quê hương thường nô nức trở về để tìm thấy hương vị ngày Xuân hiếm thấy ở xứ Âu Mỹ, riêng tôi chăng thấy náo nức mấy, ngoài ý muốn gặp lại hai đấng sinh thành và thăm lại các thầy cô cũ. Sau hơn mười năm xa quê hương, tôi vẫn mang mặc cảm tự ti của người rời bỏ đất nước lúc đang đầy khó khăn, nên tuy cố gắng tìm lại những kỷ niệm thuở thiếu thời để xua tan những gánh nặng tâm lý, tôi vẫn không muốn gặp lại các bạn đồng trang lứa. Bây giờ, một người một số phận, một quan điểm sống, có mấy ai có thể chia xẻ những suy nghĩ gàn dở của con người khắc kỷ như tôi ?
Do đó, tôi thực hiện chuyến hành hương cuối Đông về quê thật âm thầm, lặng lẽ. Trong tâm trạng bứt rứt pha ít mặc cảm, tôi tránh không gặp các bạn cũ, chỉ điện thoại liên lạc với đứa bạn thân nhất đang dạy học ở quê nhà Phú Đa khô cằn sỏi đá, hẹn đón ở sân bay Phú Bài, tạt về nhà cất hành lý, chào ba mẹ, và cùng với tôi đi một vòng về Huế, để thăm những chốn kỷ niệm ngày xưa và cả nơi Thầy đang an nghỉ.
Bạn tôi rủ đi thăm lại những nơi bán đặc sản của Huế, bánh cuốn Huyền Anh, bánh khoái Thượng Tứ, bánh nậm Mụ Ðỏ, bún bò Mụ Rớt, nhưng tôi biết mình sẽ chẳng nuốt được miếng nào nếu chưa thắp được một nén hương thăm Thầy tôi. Trước khi đến viếng bàn thờ Thầy ở nhà, tôi muốn nói chuyện với Thầy tại nơi an nghỉ cuối cũng của Thầy, dù phải cách trở qua ba tấc đất, nhưng tôi tin vong linh của Thầy sẽ hiểu tấm lòng tôi được. Tôi muốn có một lời tâm sự với chính mình, gởi đến hương hồn của Thầy, giải thích vì sao tôi đã im hơi, lặng tiếng suốt một thời gian dài, sau khi nhận được lời đề nghị đóng góp xây lăng mộ cho Thầy, cũng để nhận thiếu sót là mình vẵn chưa làm được gì để xứng đáng là học trò của Thầy, để Thầy vui lòng nơi chín suối…
Mắt tôi hoa cả lên khi bạn tôi dừng lại trước phần mộ của Thầy. Nếu không được người khác dẫn đi, chắc tôi khó nhận ra được mộ của Thầy, lẫn trong hàng ngàn, hàng vạn ngôi mộ bình thường khác ở phía sau núi Ngự Bình. Lăng mộ của Thầy đây ư? Vỏn vẹn một khối ciment hình chữ nhật đơn giản, trên mặt rải đất pha sỏi, ở đầu mộ là tấm bia đầu triệu với dòng chữ viết chân phương “NƠI ÐÂY AN NGHỈ - ÔNG…” ở cuối bia là tên những người phụng lập - Cô và các con của Thầy. Rất nhiều chân nhang cắm quanh mộ, và những nhánh hoa immortel (bất tử) nở rộn ràng trên mộ cho tôi biết rằng ngôi mộ đơn giản này vẫn được chăm sóc thường xuyên. Nhìn mộ của Thầy, đầu óc của tôi quay cuồng bao nhiêu câu hỏi. Như vậy có phải mọi người đều suy nghĩ như tôi, không tán thành xây lăng cho Thầy…?
Tôi nôn nóng hỏi bạn tôi diễn tiến sau việc quyên tiền xây lăng mộ, sửng sốt lắng nghe lời kể và ngậm ngùi liên tưởng đến khuôn mặt hiền từ đầy bao dung của Thầy, trong khói hương thơm nhẹ lẩn trong mùi cỏ dại hoà trong hơi lạnh của gió bấc cuối Đông:
…Theo đề nghị của gia đình Thầy, thống nhất với ý kiến của đại diện những người quyên góp, số tiền quyên để xây lăng mộ được dùng để xây dựng học bổng dành cho học sinh nghèo - hiếu học để khuyến khích các em học tập. Theo dự kiến ban đầu, khoản này chỉ đủ cho 5 năm học bổng ở Trường Hai Bà Trưng, mỗi năm hai suất, nhưng sau đó, các học trò cũ, các đồng nghiệp của Thầy tiếp tục đóng góp để xây dựng học bổng ngày càng lớn mạnh, mở rộng phạm vi đến các Trường phổ thông vùng sâu, vùng xa của Tỉnh.
Năm nay, Trường Phú Ða quê mình cũng đã được phân 2 trong tổng số gần 20 suất học bổng; lớp học do mình chủ nhiệm có một em học sinh được Nhà trường xét chọn. Mình vô cùng tự hào khi thay mặt tập thể giáo viên, ký tên xác nhận tiêu chuẩn của học sinh được chọn, trong phiếu đề nghị cấp học bổng mang tên chính người Thầy yêu quý của mình…
Thầy ơi, con đom đóm chết đi, nhưng vẫn góp phần điểm sáng cho cuộc đời, như trước đây nhiều danh nhân đã học thành tài khi đọc sách bằng đom đóm. Còn con, thật tệ quá, chưa làm được điều gì để xứng đáng là học trò của Thầy, lại đi phê phán đủ điều khi chưa tìm hiểu kỹ mọi người đã làm được những gì sau khi Thầy mất. Bây giờ, con phải làm gì đây, để chuộc lại lỗi lầm của con, và xứng đáng là hậu duệ của con đom đóm khiêm tốn đó?
Rời vùng đồi núi Ngự Bình, theo hướng dẫn của bạn tôi, chiếc taxi đưa chúng tôi thẳng đến ngôi nhà bấy lâu nay được xem là địa chỉ liên lạc của Tổ chức Học bổng mang tên Thầy.
Không khí mùa Đông bắt đầu ấm dần lên, hứa hẹn một mùa Xuân đầy sức sống...
01/2003

Truyện ngắn 01

VỊ ÂN NHÂN GIẤU MẶT
Truyện ngắn của Quỳnh Anh

Trong buổi cơm trưa, bà xã của tôi hỏi:
- Bây giờ anh không còn đi học nữa. Vậy ngày 20/11 tới đây, anh muốn đến thăm nhà ai?
- Trước hết, anh muốn đến thăm nhà người đã dạy cho anh chữ TÂM, cái đạo làm người, em ạ.
- Ai đó hả anh?
- Em cứ đọc mấy trang nhật ký này của anh ngày còn đi học sẽ rõ.
*****
Ngày 15 tháng 1 năm 1994,
Chiều nay có buổi kiểm tra đơn vị học trình thực tập môn Giải phẫu, môn học mà tôi yêu thích nhất. Bài vở đã chuẩn bị xong, nhưng tôi vẫn nấn ná chưa muốn đến Trường. Tôi muốn tránh không gặp gương mặt ông T. (mà trước mặt ông, tôi phải miễn cưỡng gọi là “thầy” vì ông ta làm ở Phòng Giáo vụ, với nhiệm vụ quản lý sinh viên khối chúng tôi). Tôi biết thế nào tên tôi cũng lại được nhắc nhở trong danh sách những sinh viên chưa đóng học phí đợt 1… Nhắc đến ông T., không riêng gì tôi, mà nhiều sinh viên khác đều lắc đầu ngán ngẩm… Chúng tôi gọi trớ tên ông là ông Têta, vì ông thường dùng chữ ký thật quái đản - chữ cái Théta của Hylạp, trông như một nhát chém ngang mặt người hình tròn!
Đó là một người đàn ông không còn trẻ, tứ thời khoác trên người một chiếc áo quân phục (chắc để khoe khoang quá khứ bộ đội của mình) và chiếc quần kaki bạc màu, chỉ biết có công việc và công việc! Đặc biệt, ông ấy không hề biết (hoặc không bao giờ nghĩ đến) những câu nói làm vừa lòng nhau. Ông Têta quản lý rất chặt chẽ những sinh hoạt của sinh viên khối chúng tôi, từ những buổi đi học muộn (khỏi nói gì đến chuyện vắng mặt) đến những điều nhỏ nhặt phạm đến Nội quy học sinh – sinh viên (chúng tôi chỉ loáng thoáng nhớ đến vào những buổi học chính trị đầu năm, nhưng ông Têta thì thuộc nằm lòng!). Có lẽ ông chẳng còn công việc gì khác để quan tâm nữa (vợ con không có, mà với cái tính khắc nghiệt như thế, cô nào gặp cũng phải chạy dài…), nghe nói ông Têta đã học xong đại học tại chức trong những năm chiến tranh (lúc đó việc đánh giá kết quả khoá học thường rất “linh động”, thời buổi chiến tranh mà!), sau này đi học thêm cũng chẳng được kết quả gì, nên chỉ biết an tâm công tác lâu dài ở vị trí mà chúng tôi thường nói trộm sau lưng: bé không học, lớn làm … quản lý sinh viên!
Với một hoàn cảnh gia đình đầy khó khăn như tôi (bố mẹ bị tai nạn mất sớm, hai anh em chúng tôi chỉ được bà ngoại, một nông dân ở Quảng bình, nuôi dưỡng), việc chậm đóng học phí là khó tránh khỏi (mà theo quy định, muốn thi học phần phải đóng xong học phí của học kỳ đó). Hàng tháng, ngoài khoản tiền nhỏ bà ngoại tôi gởi vào, tôi phải đi dạy kèm thêm để mưu sinh (thông qua Tổ chức Hội sinh viên và Câu lạc bộ Gia sư của Trường, tôi đã tìm được một hai chỗ dạy để kiếm thêm tiền sách bút), nhưng mức học phí tương đương hàng mấy tấn thóc là cả một vấn đề lớn. Việc tôi thường xuyên được ông Têta nhắc nhở đóng học phí đã gây nên sự quan tâm của nhiều bạn trong lớp, mà con trai chúng tôi, anh nào chẳng muốn giữ sĩ diện trước bạn bè, nhất là bạn gái chứ…
Tôi chờ đến sát giờ kiếm tra mới đến thẳng Phòng Thực tập để khỏi gặp ai khác. Nhưng chạy trời không khỏi nắng, đến cuối buổi kiểm tra, thầy giám thị lại đọc một danh sách do ông Têta ký mời lên Phòng Giáo vụ vào cuối buổi (dĩ nhiên, tên tôi lại được nhắc). Tôi vội vã kết thúc cho xong bài kiểm tra, chẳng còn lòng dạ nào để làm nữa, cũng may tôi đã chuẩn bị bài này khá kỹ lưởng…
Tại Phòng Giáo vụ, ông Têta lại lên lớp giảng giải về nội quy – quy chế cho chúng tôi một hồi (có lẽ không được đứng trên bục giảng nên khi được dịp giảng bài, ông nói hăng say lắm!) và công bố đến cuối tuần (tức là 3 ngày nữa), nếu không đóng học phí vì có thể khỏi thi học phần (ông nhắc lại: như thế không phải miễn thi đâu!). Các bạn đồng hành của tôi dạ dạ cho qua, tôi thừa biết chúng chẳng khó khăn như tôi đâu, nộp học phí chậm chẳng qua ví chúng dùng tiền gia đình gởi cho để nhậu nhẹt, ăn chơi, khi cần thì lại điện về xin tiếp, chứ tôi bây giờ chỉ còn có mấy chục ngàn đồng trong túi và trong két sắt (tức là rương gỗ ở nhà trọ), biết lấy đâu ra mà trả? Tôi nấn ná ở lại, chờ các bạn ra khỏi phòng rồi mới ngỏ lời xin ông Têta (dĩ nhiên, phải gọi là thầy T. khi nói chuyện) nghiên cứu hoãn cho trường hợp của tôi một thời gian. Tôi đã nhẩm tính trong đầu: trước mắt xin ứng hai tháng tiền lương dạy kèm, sau đó hàng ngày nhận đi bỏ bánh mì buổi sáng, mỗi tuần 3 buổi tối dạy võ thuật, đến mùa tốt nghiệp nhận đánh máy vi tính cho các luận văn, như thế là tạm đủ cho các đợt nộp học phí rồi.
Không ngờ hành động này lại dẫn đến một sự cố khác. Sau khi nghe tôi trình bày, ông Têta lớn tiếng: “Trong thông báo gọi nhập học, đã có quy định về việc nộp học phí rồi. Nếu gia đình anh thấy không thể lo được thì anh tập trung đến Trường làm gi? Anh đã học quy chế rồi, anh phải biết nộp học phí là bổn phận của từng sinh viên chứ. Nếu ai cũng đi học mà không trả học phí như anh thì lấy đâu ra nguyên tắc ‘Nhà nước và Nhân dân cùng làm’ nữa? Thiếu học phí tức là mắc nợ, thế anh định quỵt nợ Nhà nước chắc?”
Nghe tiếng ồn ào, người ở các phòng chung quanh đổ xô đến, cả những sinh viên đang học ở giảng đường chung quanh nữa. Máu nóng bốc lên, tôi lớn tiếng trả lời, không thèm xưng em nữa: “Thầy là người, tôi cũng là người. Gia đình tôi nghèo, nhưng tôi không ăn cắp, không ăn quỵt ai cả. Người nghèo cũng có quyền đi học chứ. Tôi chỉ xin được hoãn nộp học phí thôi, rồi tôi lao động để kiếm tiền trả học phí. Mà Thầy cũng không có quyền hành gì mà từ chối hay chấp thuận, chỉ có Ban Giám hiệu mới có quyền. Thầy không có quyền nhục mạ tôi. Thầy là kẻ nhẫn tâm…”
Mắt tôi mờ đi, nhưng tôi vẫn thấy gương mặt ông Têta tái hẳn lại. Nhìn thấy đôi mắt của ông tối sầm lại, tôi thấy ân hận vì những lời nói của mình, nhưng mũi tên đã trót buông ra khỏi cung rồi. Một phút im lặng trôi qua, có người nắm chặt cánh tay tôi, tôi nhận ra thầy H. dạy Giải phẫu, người thầy mà tôi yêu quý nhất. Thầy H. nói gì đó với ông Têta, rồi dẫn tôi ra ngoài. Bão tố chút nữa là ập đến đầu tôi, may nhờ thầy H. chắn được. Tôi quay lại, chỉ kịp thấy ông Têta đang xua xua tay mời mọi người ra ngoài…
Tôi trằn trọc không ngủ được. Đầu tôi cứ ong ong vì những câu nói đối đáp hồi chiều. Đến giữa khuya mới chợp mắt được một tí, tôi mơ thấy mình đứng trước Hội đồng kỷ luật của Nhà trường, ông Têta đang hùng hồn phát biểu về thái độ của tôi, đôi mắt vẫn lạnh lùng như mọi ngày. Ngoài cửa số thấp thoáng bóng thầy H., còn trong phòng toàn những gương mặt sắt lạnh. Mắt tôi hoa lên, tôi lại chìm vào giấc ngủ mê man, lại thấy cảnh mình ôm ba lô leo lên tàu VQ trở ra quê, tìm về với bà ngoại…
*****
Bà xã lại ngước nhìn tôi, mim cười:
- Tính của anh bây giờ chẳng khác gì ngày xưa, bao giờ cũng “ruột để ngoài da” cả. Thế nào rồi cũng khổ đấy anh ạ.
Tôi nhún vai, nói đùa:
- Chẳng hạn lấy em đây là khổ rồi, nhìn đâu cho xa nữa. Thôi đọc tiếp đi, không cần đọc đến nổi khổ chạy tiền của anh. Tìm đến trang viết về ngày thi Mô phôi đó.
*****
Ngày 19 tháng 1 năm 1994,
…Tôi đánh liều vào phòng thi học phần Mô phôi, danh sách niêm yết ở phòng thi vẫn còn tên tôi, chắc Phòng Giáo vụ chưa kịp gạch tên. Các bạn cùng bị gọi lên Phòng Giáo vụ với tôi hôm nọ vẫn thư thái vào thi, chắc chắn họ đã đóng học phí cả rồi (còn tôi mấy hôm nay có dám báo tin gì với bà ngoại tôi đâu?). Giấy thi phát ra, tôi điền tên vào mà vẫn run, không biết đến khi nào thì bị Phòng giáo vụ đọc tên đuổi ra khỏi phòng thi đây? Một giám thị đến ký tên vào bài thi, tôi bàng hoàng nhận ra chữ têta, trời ơi gặp oan gia, có lẽ Bộ môn Mô phôi không có đủ giám thị coi thi nên ông Têta đi hỗ trợ. Tôi ấp úng: “… Thưa … thưa thầy…”, ông quay lại: “Có thắc mắc gì, nói lớn lên, cả phòng cùng nghe!”, tôi lí nhí: “Dạ, không có gì ạ.”
Tôi bàng hoàng, bắt đầu làm bài, tự nhủ không biết ông Têta sẽ hành hạ tôi như thế nào đây, hay là cho tôi thi hết các môn rồi tuyên bố huỷ kết quả theo quy chế? Thôi mắc kệ, đến đâu thì đến, tôi cứ làm cho xong bài rồi mang nộp. Bí mật bắt đầu hé mở vào cuối buổi thi, khi tôi nộp bài, ông Têta dặn: “Chốc nữa, lại Phòng Giáo vụ gặp tôi”.
Tôi chờ đến khi ông bàn giao bài cho Bộ môn xong mới về lại Phòng Giáo vụ. Ông Têta nói không thèm nhìn tôi: “Anh đến Tổ Tài chính – Kế toán (để làm gì, tôi nghĩ, mình chỉ còn có 14 ngàn trong túi thôi), lấy biên nhận đóng học phí rồi mang về nộp cho tôi làm thủ tục”. Tôi ấp úng: “Thưa thầy, em chưa có…”, ông khoát tay: “Đi đi, có người thanh toán rồi”…
Tôi như mọc cánh, phóng như bay đến Tổ Tài chính – Kế toán, chị kế toán béo núc ních sao hôm nay lại duyên dáng thế, mở máy tính in tờ phiếu thu rồi đưa cho tôi ký, cười cười: “Sướng nhé, có quý nhân phù trợ đó, khao đi”. Tôi mời chị một chiếc kẹo Nuga, chị vui vẻ bóc ăn, chị biết sinh viên nghèo như tôi chỉ mời được như thế là cùng. Tôi tò mò: “Chị ơi, ai cho em mượn tiền thế hả chị?” Chị lắc đầu: “Chị cũng không rõ, thầy T. chuyển tiền xuống đây”.
Tôi quay lại Phòng Giáo vụ, trao biên nhận cho ông Têta, rồi cố giữ giọng thât lễ độ: “Thưa thầy, thầy có thể cho em hay, ai đã cho em mượn khoản tiền này?”. Ông Têta lầm lì không nói gì, chỉ trao cho tôi một lá thư đánh máy vi tính, không có chữ ký, kiểu chữ VRES thông dụng ở đa số các bàn giấy văn phòng:

Kính gởi: Ban Giám hiệu Trường …………….
Đồng kính gởi: Phòng Giáo vụ - Công tác sinh viên
Tôi là một cán bộ công chức của Trường, tình cờ biết được hoàn cảnh kinh tế khó khăn của em Nguyễn văn Lành trong việc theo đuổi việc học (tôi đỏ mặt nhớ lại buổi to tiếng vừa rồi, có lẽ ân nhân của tôi có trong số người hiếu kỳ hôm đó!).
Tôi thông cảm với hoàn cảnh và hiểu tính cách của em Lành, nên mạn phép xin Ban Giám hiệu và các Phòng chức năng cho tôi được đóng giúp em Lành khoản học phí đợt 1 năm học này. Các đợt sau của năm học, cũng như các năm học sau, tôi sẽ căn cứ kết quả học tập của em Lành để hỗ trợ, nếu em ấy tỏ ra xứng đáng trong học tập và rèn luyện. Mục đích của việc hỗ trợ này là tôi muốn góp phần tạo điều kiện cho một học sinh nghèo, có chí tiến thủ có thể tiếp tục việc học trong hoàn cảnh “cơ chế thị trường” hiện nay.
Điều duy nhất tôi đề nghị là xin được giữ kín danh tính của tôi. Mỗi học kỳ, thông qua cán bộ phụ trách khối học của em Lành, tôi sẽ theo dõi việc học của em ấy và nếu em ấy học tốt, tôi sẽ chuyển khoản tiền hỗ trợ bằng mức học phí cần phải đóng của em Lành và nhờ các đồng chí ấy làm thủ tục hộ.
Kính thư,
Một người quan tâm đến việc học

Thấy tôi chào và hớn hở ra về, ông Têta ngăn lại, nói cụt lủn: “Đây là sự may mắn cho anh. Tôi nghĩ anh nên cố gắng học tập để xứng đáng với…”, tôi ngắt lời, mạnh dạn: “Thưa thầy, thầy không phải nhắc. Em biết phải thực hiện bổn phận của em, (giọng cố tình mỉa mai) như thầy biết thực hiện bổn phận của thầy”. Ông lầm lì trở lại: “Được, thế thì tốt”. Tôi đoán ông bực mình lắm vì đã có người bảo trợ cho tôi, một sinh viên đã dám ngang ngược cãi lại cán bộ phụ trách, mà chẳng biết làm gì hơn được…
Tôi về nhà, viết ngay một lá thư dài cho bà ngoại và em tôi ở quê, kể lại chi tiết những mối thăng trầm trong suốt mấy ngày qua, không quên chép nguyên văn nội dung lá thư của ân nhân mà tôi đã xin ông Têta cho photocopy lại. Với lời tự hứa sẽ tìm cho ra danh tính của ân nhân và tìm cách báo đáp xứng đáng, tôi chăm chú dở sách vở ra học tiếp các môn thi học phần còn lại, thề sẽ dồn hết sức lực, trí tuệ của mình vào việc học để xứng đáng với lòng tốt của người ân nhân chưa biết mặt ấy. Tự dưng tôi lại nhớ đến thấy H., người thầy kính mến đã cứu tôi khỏi cơn bão lửa hôm đó…
*****
Bà xã chớp chớp mắt, nhận định:
- Chắc là thầy H. rồi. Thời buổi này con người có tấm lòng vàng hiếm lắm.
- Thì ban đầu anh cũng nghĩ như thế. Nhưng có đúng đâu. Em đọc tiếp đi, thời gian chuẩn bị thi luận văn cuối khoá, anh bận lắm nên chẳng có thời gian viết được nhiều.
*****
Ngày 30 tháng 9 năm 1999,
Sáu năm học đằng đẳng (đúng ra là năm năm rưỡi, kể từ ngày tôi hưởng sự bảo trợ của vị ân nhân giấu mặt này), tôi đã học như chưa bao giờ được học, đến nối có lần thầy H. dạy Giải phẫu đã phải khuyên tôi nên nghỉ ngơi, giải trí hoặc chơi thể thao bớt để giữ cho thần trí được luôn minh mẫn, thay vì suốt ngày cứ chúi mũi, chúi lái vào việc học, học quá lỡ bị suy nhược thần kinh thì hỏng. Tôi bảo xin thầy cứ yên tâm, thể trạng em rất tốt vì ngày trước em chơi thể thao nhiều, nhưng nay thì em phải tập trung để đền đáp lòng tin của vị ân nhân khả kính đó. Tôi kể lại chi tiết cho thầy H. và chú ý phản ứng của thầy, sau đó theo tâm lý phán đoán, tôi thấy người ân nhân đó khó có thể là thầy H. được: thầy chỉ làm thuần tuý chuyên môn nên không hiểu mấy về các quy chế như ân nhân của tôi (thể hiện trong thư viết), hơn nữa cũng nhiều lần thầy tìm cách giúp tôi tìm hiểu, điều tra về người ân nhân đó nhưng không có kết quả gì.
Đầu mối còn lại mà tôi có thể tìm hiểu là những cán bộ của Phòng Giáo vụ. Trong hai năm học còn ở khối ông Têta phụ trách, tôi thật khó gần được tính cách của ông ấy, nên chẳng nói chuyện gì nhiều, có chăng chỉ là nhận những lời chê bai của ông Têta, cho rằng tôi chưa xứng đáng với tầm lòng của vị ân nhân giấu mặt (mà có lẽ ông ấy cũng đã tò mò tìm hiểu mà không biết), vì hồi đó tôi chỉ mới đạt danh hiệu tiên tiến khi tổng kết năm học thôi...
Đến những năm sau, kết quả học tập của tôi đã khả quan thực sự, tôi bắt đầu quen thuộc với tờ giấy khen Sinh viên Xuất sắc mỗi đợt phát thưởng nhân dịp khai giảng, thậm chí nhiều môn học của tôi đã đạt điểm cao nhất khối học, các cán bộ phụ trách khối (ông Têta chỉ phụ trách khối các năm đầu thôi) đã có lần lấy tôi làm tấm gương tiêu biểu về học tập và tôi đã có vinh dự được chọn đi báo cáo điển hình về kinh nghiệm học tập. Thậm chí từ năm Y5, thầy H. đã thỉnh thoảng cho tôi phụ mổ cho thầy trong phòng mổ (dĩ nhiên dưới tên bác sĩ khác), tôi cảm thấy mình đã trưởng thành rất nhiều, chỉ mong sao gặp được vị ân nhân khả kính của tôi để báo cáo thành tích học tập…
Tuy nhiên, không hiểu vì sao, tôi vẫn không khỏi mặc cảm khi đứng trước mặt ông Têta khắc nghiệt này. Ông thường nói lửng lơ, trích câu nói của Vương Dương Minh “Việc học ví như thuyền đi ngược nước, nếu không tiến, ắt phải lùi” và tỏ ý nghi ngờ không biết tôi có thể học tốt đến khi tốt nghiệp không, hay là nửa đường đứt gánh? Câu nói của ông biết đâu cũng làm nhiều cán bộ khác lưỡng lự khi đánh giá về tôi, viêc bình chọn tôi đi báo cáo về học tập hình như cũng gặp trắc trở, dù cuối cùng cũng được thông qua. Tôi nghĩ rằng đến cuối đời, chẳng cách nào gần gủi được ông Têta - con người khó tính đó.
*****
- Rõ ràng, anh có thành kiến với ông Têta rồi. Ông ấy làm đúng chức năng quá, mà cán bộ quản lý thì phải giữ vững quy chế chứ.
- Em phải làm cán bộ tổ chức mới phải, phát biểu cứ như cấp lãnh đạo ấy thôi. Nhưng thời sinh viên thì khác chứ, ai lại chẳng muốn mọi người dễ dàng với mình? Hồi đó sinh viên có ai gần gủi ông ấy đâu? Bây giờ ra công tác, anh đã “thuần” hơn nhiều rồi, nếu có gặp lại trường hợp đó chắc sẽ biết cư xử tế nhị hơn.
- Thế bây giờ ông ấy lập gia đình chưa anh? Con người khắc nghiệt như thế, nếu yêu thì chắc say đắm lắm nhỉ?
- Thôi, xin nhà tâm lý học đọc tiếp đi, sắp kết thúc rồi.
*****
Ngày 2 tháng 3 năm 2000,
Sau khi tốt nghiệp loại Xuất sắc, tôi xin được phân nhiệm sở tại quê nhà, nơi ngày xưa tôi đã ấp ủ nguyên vọng đem việc học của mình đóng góp cho việc xây dựng quê hương. Nhiệm sở của tôi là một bệnh viện lớn do Cuba tài trợ trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Tuy tôi chỉ tốt nghiệp hệ đa khoa, nhưng chỉ sau vài tháng bổ túc chuyên khoa sơ bộ, tôi đã được chính thức về khoa Ngoại, chuyên khoa gắn bó với tôi từ những ngày đầu chập chững bước vào Trường Y. Tôi bắt đầu tham gia các lớp học nâng cao trình độ, được đi tham dự một hội thảo quốc tế ở Hà nội với đề tài tốt nghiệp của tôi, và cũng qua đợt hội thảo đó, tôi được một giáo sư đầu ngành gợi ý làm chuyển tiếp Cao học tại thủ đô. Đề cương nghiên cứu Cao học của tôi đã được Hội đồng đánh giá rất cao về khả năng ứng dụng, giáo sư hướng dẫn đã dự tính khi nếu bảo vệ xong có thể phát triển thành luận án phó tiến sĩ…
Điều trăn trở duy nhất của tôi là danh tính của người ân nhân giấu mặt, đã tích cực giúp đỡ tôi trong những năm tháng khó khăn của thời đại học. Tôi đã cất công tìm hiểu rất nhiều, nhưng vẫn không tìm thấy được tung tích gì của người đó, đã dọ hỏi hầu hết cán bộ trong Trường cũ, thiếu điều tôi gởi thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng chẳng có thông tin gì cả.
Có một chủ trương mới của Bộ Giáo dục – Đào tạo mà tôi rất hoan nghênh, là dự án của Nhà nước cho học sinh – sinh viên nghèo vay tiền ăn học trong các năm đi học, và sẽ hoàn trả lại dần sau khi tốt nghiệp và nhận công tác. Đối với những người đã từng là học sinh – sinh viên nghèo như tôi trước đây, dự án này như một chiếc cầu nối kết chặt chẽ với trường đại học, vì ít nhiều chúng tôi có thể bớt lo toan đến vấn đề kinh tế, tưởng chừng không thể vượt qua được trong suốt thời kỳ đi học. Càng mừng cho lớp hậu sinh sau này, tôi càng thấy quý mến người ân nhân mà không biết đến khi nào tôi mới gặp mặt được.
Mọi chuyện đến với tôi một cách ngẫu nhiên…
Trong một chuyến công tác vào Huế, ghé lại thăm trường cũ. Chỉ mới một năm công tác, trở lại Trường tôi gặp bao nhiêu thay đổi, bao nhiêu gương mặt mới. Thầy H. đã bảo vệ tiến sĩ xong, hiện đang đi giảng một chuyên đề về ngoại khoa ở nước ngoài. Ngồi ở bàn làm việc của ông Têta - nơi hơn sáu năm trước đây, tôi đã to tiếng với ông, rồi được vị ân nhân giúp đỡ - là một bác sĩ trẻ mới chuyển công tác từ tỉnh khác về. Hỏi thăm về ông Têta, tôi được biết ông đã mất cách đây mấy tháng: đúng trong cơn lũ thế kỷ năm 1999, ông tham gia cứu mấy người bị lũ cuốn trôi, cuối cùng chính ông lại kiệt sức, bị dòng nước đục cuốn mất xác. Gia đình ông chẳng còn ai cả, các bạn bè đồng nghiệp đã lập một bàn thờ trong căn phòng tập thể nhỏ mà ông ở chung với người khác, hiện đang chờ người bà con xa từ quê vào nhận bát hương để chuyển ra quê…
Nghĩa tử là nghĩa tận, tôi tìm đến bàn thờ của ông để thắp một nén hương tưởng nhớ. Người bạn cùng phòng giới thiệu cho tôi các di vật còn lại của ông, thật đơn sơ, thậm chí ảnh trên bàn thờ cũng phải lấy chứng minh nhân dân vì ông chẳng mấy khi chụp ảnh riêng cả. Tôi tỉ mẩn giở chiếc hộp gỗ nhỏ đựng giấy tờ của ông, phía dưới các giấy chứng nhận, bằng khen, giấy khen đủ loại là những giấy tờ dược ông ghi chú: LINH TINH. Cuối cùng, cài mà tôi mong chờ bao nhiêu năm đã hiện ra: một xấp phiếu chuyển tiền, chỉ cần nhìn qua, tôi nhận ra ngay là tiền nộp cho các khoản học phí của tôi những năm nào. Tên người nhận lần lượt là những thầy cô giáo phụ trách khối học của tôi, và lý do gởi tiền: trả học phí cho sinh viên Nguyễn văn Lành, khoá 1993-1999. Tôi lật ra mặt sau để tìm thấy đúng điều mình vừa nghi ngờ cách đây mấy phút, khi phát hiện xấp phiếu chuyển tiền: tên người gởi chính là thầy T., với một chữ ký têta vô cùng quen thuộc…
*****
- Em hiểu rồi, anh ạ. Thầy T. không dạy chữ cho anh, nhưng thầy đã dạy cho anh cái đạo làm người. Ngày 20/11, anh cứ tạm thắp hương ngoài trời để khấn với thầy T., rồi mình sẽ tìm ảnh của thầy, hoạ lại bức chân dung để thờ chung với ông bà.
11/2002